Về Càng An Thơ 6.8.2017

Sông Hoài

Sông Hoài – thơ Võ Văn Hoa

LÀNG THI ÔNG ( xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị )TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG ĐẠI – Bài viết của VÕ VĂN HOA & VÕ VĂN QUANG SINH

LÀNG THI ÔNG TRUYỀN THỐNG VÀ ĐƯƠNG ĐẠI

“Cây có gốc mới nở cành xanh ngọn,

Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu

Làng Thi Ông chúng ta hiện đang sinh sống, xưa kia là đất Chiêm Thành cũ, thuộc Triều đại phong kiến Chăm Pa. Năm 1069, vua Lý Thái Tông đem quân đánh vào kinh thành Chăm Pa, bắt được vua Chế Củ làm tù binh. Để được sống, Chế Củ xin dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để được trả tự do. Nhà Lý đổi 3 châu đó thành châu Lâm Bình và Minh Linh (từ sông Hiếu trở ra). Năm 1306, vua Chăm Pa là Chế Mân sai sứ dâng chiếu cầu hôn với công chúa Huyền Trân, con vua Trần Anh Tông của nước Đại Việt (tên của Việt Nam lúc đó) với sính lễ là đất hai châu Ô và châu Rí (từ Nam sông Hiếu đến Quảng Nam). Vua Trần bằng lòng gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân và nhận hai châu Ô và châu Rí (Lý).

“ Hai châu Ô, Rí vuông ngàn dặm

Một gái Huyền Trân của mấy mươi !”

( Hoàng Cao Khải)

Sau đó, nhà Trần đổi châu Ô làm Thuận Châu, châu Lý làm Hóa Châu.

Mảnh đất làng Thi Ông ngày nay khi ấy thuộc Thuận Châu.

Đến  đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), đổi tên hai Châu Thuận và châu Hóa thành hai phủ là phủ Triệu Phong và phủ Tân Bình. Phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa. Phủ Triệu Phong gồm các huyện Vũ Xương và huyện Hải Lăng mà huyện Hải Lăng đươc đổi từ huyện An Nhơn mà ra.

Thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hoàng – con trai thứ của Nguyễn Kim  xin cha vào trấn thủ xứ Thuận Hóa. “ Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân “ .

Tại đây, chúa Tiên Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn (1558 – 1777) xây dựng xứ Thuận Hóa dần dần trở thành bờ cõi riêng và xưng chúa.

Lần dở “ Những làng cổ ở Quảng Trị “ của linh mục Nguyễn Văn Ngọc đăng trên tạp chí Cửa Việt thì làng Thi Ông được hình thành trong đợt Nam tiến lần thứ 2 ( mốc 1558) này, tính đến nay 459 năm.

Trong dòng người di dân vào Thuận Hoá có Ngài họ Võ; đến đây, thấy vùng đất đai bằng phẳng, phong cảnh hữu tình, Ngài dừng lại cắm mốc giới để khai hoang lập ấp và trở thành Thỉ Tổ tiền khai khẩn của làng Thi Ông. Sau đó có ngài họ Nguyễn và ngài họ Hồ cũng vào thêm cùng nhau sinh sống ở đây, xác định ranh giới quy vùng đất đai của làng : Ngài Nguyễn là kiến canh địa bộ, ngài Hồ là hậu khai canh của làng . Các Ngài đã được nhiều triều đại của Triều đình Nhà Nguyễn cấp sắc phong. Hiên nay có 17 tờ sắc phong còn tồn tại. Sau này còn có các họ khác đến nhập cư có số khẩu trên 20 người, trên 5 hộ sinh sống tại Làng như Họ Lê, Họ Phạm, Nguyễn Thế,…

Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, lập dinh Quảng Trị bao gồm đất đai các huyện Hải Lăng, Đăng Xương (tên cũ là Vũ Xương), Minh Linh và đạo Cam Lộ (mới lập). Trong đó, Huyện Hải Lăng gồm 5 tổng: Hoa La, An Thư, An Dã, Câu Hoan, An Khang và mảnh đất làng Thi Ông ngày nay khi ấy thuộc tổng An Khang .

Theo danh sách xã thôn Trung Kỳ 1940 thì làng Thi Ông thuộc tổng Văn Vận, huyện Hải Lăng (gồm 3 xã Hải Quy, Hải Xuân, Hải Vĩnh hiện nay), Cách mạng tháng 8 thành công, làng Thi Ông thuộc xã Thi-Nhơn-Chánh-An-Đức, sau bầu cử Quốc hội 1946 sáp nhập với  làng Lam Thủy có tên xã Hải Lý, tháng 7 năm 1950 đổi thành xã Hải Hưng, sang năm 1951 đổi thành Hải Bình (gồm toàn bộ Hải Ba, Hải An và Thi-Nhơn-Chánh-An-Đức), 1955 tách Hải Ba và Hải An để làng Thi Ông và sát nhập với làng Lam Thủy, Thuận Nhơn, Lương Chánh, Thượng An, Thuận Đức thành xã Hải Vĩnh, huyện Hải Lăng và tồn tại cho đến nay.

Theo bản đồ hiện nay làng Thi Ông vị trí là : phía Bắc giáp với làng Phương Lang và làng Ba Du; phía Nam giáp với làng Cu Hoan và làng Thuận Đức; phía Đông giáp với làng Cổ Luỹ, làng Lương Chánh và làng Thượng An; phía Tây giáp với làng Lam Thuỷ và làng Thuận Nhơn Ngoài.

Địa hình làng đa phần là bằng phẳng, phía Bắc là dòng Cổ Hà, có các xóm Tây Hạ Hòa, Đông Hạ Hòa, qua cánh đồng Bắc đến khu dân cư xóm Vĩnh Định, xóm Hạ Hòa, phía Nam sông Vĩnh Định là các xóm dân cư Trung Hòa, Thượng Hòa và đến rú cát, nơi an táng những người quá cố.

Làng được chia thành 6 xóm : 1) Tây Hạ Hòa (Xóm Làng), 2) Đông Hạ Hòa (Xóm Sáo), 3) Vĩnh Định (Xóm Sông), 4) Hạ Hòa (Xóm Đôộng), 5) Tây Trung Hòa, (Xóm Đồng Ngoài), 6) Đông Trung Hòa (Xóm Đồng Trong), 7) Tây Thượng Hòa (Xóm Rú Ngoài), 8) Đông Thượng Hòa (Xóm Rú Trong).

Đồng ruộng thì chia các xứ, nếu tính từ bắc vào gồm: Gia Lóng, Cồn Tự, Hạ Đoạn (Nam, Bắc), Trung Đoạn (Nam, Bắc), Ruộng Đìa (Đông, Tây), Bàu, Thuyền Ba (Nam, Bắc), Thuyền Tư (Nam, Bắc), Thuyền Năm (Nam, Bắc), Hộ Phiên (Nam, Bắc), Tiểu Nội Hạ (Nam, Bắc), Cây Rạ, Cây Mưng (Nam, Bắc), Tiểu Nội Thượng (Nam, Bắc), Tả Trạch Hạ, Tả Trạch Thượng, Công Quanh, Mả Tổ, Hoang Bôn, Trưa Am.

Rú cát thì chia các cồn : Cồn Trạng, Cồn Rõi, Cồn Miếu…

Đặc điểm của Làng là không có tư điền, tư thổ. Trước đây việc xin thổ cư chỉ trình xin Làng, khi Làng đồng ý là có ruộng, vườn, đất vườn được trừ vào ruộng khẩu phần.

Về di tích văn hóa làng :

  • Vật thể :
  • Làng hiện còn các Lăng mộ tiền nhân được hậu duệ tu bổ, nâng cấp nghiêm cẩn; để ghi nhớ công lao, Làng đã xây 3 ngôi miếu để thờ 3 ngài Võ, Nguyễn và Hồ. Hằng năm lấy ngày 15/5 âm lịch là ngày hiệp kỵ của 3 ngài.
  • Ngoài 3 miếu còn có Miếu Bổn thổ Thành Hoàng ở xứ Cồn Miếu. Miếu Ông, Miếu Giàng ở xóm Tây Hạ Hòa. Các xóm Tây Hạ Hòa, Đông Hạ Hòa, Vĩnh Định, Hạ Hòa, Trung Hòa, Thượng Hòa, đều có Miếu Ngũ Hành, Âm hồn. Ngoài ra trên đường kiệt giữa ruộng Đìa Đông và ruộng Đìa Tây có Đền Cầu Bông và Đìa Thát Lát.

*  Về Đình làng xưa ở xóm Tây Hạ Hoà, trong thập niên 60 thế kỷ trước, chiến tranh đã tàn phá sau này HTX đã trích kinh phí cộng với sự đóng góp của dân Làng đã phục dựng lại ngôi đình mới ở xóm Đông Thượng Hoà năm 2006 .

  • Chùa Làng xưa ở xóm Tây Hạ Hoà (vùng Gia Lóng) sau đó chiến tranh tàn phá nên Làng đã thỉnh chuông, tượng Quan Thánh có từ lâu đời về xây dựng lại ở xóm Đông Thượng Hoà còn gọi là Chùa Am.

Hiện còn chuông đồng với các dòng chữ Hán :

THI ÔNG TỰ CHUNG

Phòng thủ tước Ngô Văn Thắng, cai đội Ngô Văn Thọ

Đồng chú tạo xứng trọng nhất bách bát ngũ cân.

Thiệu Trị nguyên niên thập nguyệt sơ tam nhật

( Chuông nặng 185 cân, đúc ngày 3/10/1841 năm thứ nhất đời vua Thiệu Trị . Tính đến nay 176 năm)

Riêng pho tượng Quan Thánh, một sự kiện đáng được quan tâm đó là: Lợi dụng sơ hở tại nơi thờ cúng và giả danh khách hành hương, ngày 15/01/2016, Vũ Văn Nghĩa và Trần Quốc Hùng đã thực hiện trót lọt vụ trộm cắp tài sản ở Chùa , lấy đi pho tượng Quan Thánh có giá trị đặc biệt về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học.

Và sau đó được sự phát hiện của cô giáo Nguyễn Thị Thùy Trang và sự quan tâm của lực lượng Công an nên bảo vật được trả lại .

  • Niệm Phật đường (Chùa Khuông hội) được xây vào năm 1962 tại xóm Tây Trung Hòa. Hiện nay được tu sửa, nâng cấp lại, năm 2011 được sự đồng ý của cấp trên, Khuông Hội đón Sư cô Thích Nữ Nguyên Phổ về trụ trì.
  • Thánh đườngThi Ông (nhà thờ Thiên Chúa giáo ) được xây dựng trước CMT8, tại xóm Vĩnh Định, đến năm 1967 bị bom Mỹ phá hủy .
  • Các nhà thờ Họ, Phái nơi để thờ phụng tổ tiên của từng dòng họ, toàn làng có 4 nhà thờ Họ, 7 nhà thờ phái.

Trước năm 1967 vào sáng Mồng 1 Tết các chức sắc chức việc của làng tập trung tại nhà ông Thủ bộ là nơi lưu trữ Đinh-Điền-Địa bộ của Làng để cúng lễ Khai Bộ và hạ hòm gỗ lưu trữ các văn tự của Làng để Làng kiểm kê sau đó để lại vị trí củ chờ năm sau làng lại kiểm tra. Lễ Khai Hạ vào ngày 7 tháng giêng âm lịch (Hạ nêu) tại miếu Bổn Thổ. Lễ Hiệp kỵ ngày 15 tháng 5 âm lịch là kỵ của 3 ngài Võ-Nguyễn-Hồ tại Ba miếu. Lễ xuống đồng, trước đây do làm ruộng 1 vụ là vụ đông xuân do đó lễ xuống đồng do Thủ bộ làng đảm nhiệm, Làng trích ra 3 sào ruộng cho Thủ bộ lo lễ. Lễ Cầu bông tại giếng Thát Lát vào dịp lúa làm đồng khoảng tháng 3 âm lịch, Lễ tảo mộ làng vào ngày 14 tháng chạp âm lịch. Ngoài ra các xóm có lễ cúng Xuân Thu nhị kỳ vào rằm tháng Giêng và tháng Tám. Ngày 4 tháng Giêng các xóm tảo mộ cô hồn (mộ không thừa nhận). Để mồ mả  khỏi bị mất mát cát bay, cát lấp, cây che hàng năm,các Họ, Phái chọn ngày thuận lợi vào dịp giỗ kỵ để tổ chức tảo mộ. Ngoài ý nghĩa con cháu biết mồ mả ông cha còn là dịp để con cháu nội ngoại nhận biết nhau kết tình huynh đệ.

Ngoài ra còn có di tích hồ Dĩa Nghiên ở XómTây Thượng Hòa, hồ Làng ở xóm Trung Hòa, hồ Vũng Cống và Hồ Trầm Cá ở xứ Tiểu Nội Thượng và các địa danh Bến đò, Bến Cạn, đồn Thi Ông…

Phi vật thể :

Trong làng còn lưu truyền những câu hò đối đáp trong dân gian, những chuyện cổ tích như Sự tích ruộng Cây rạ (rựa) v.v …đã, đang được sưu tầm, biên tập.

Con em trong làng cũng có nhiều người sáng tác Văn học Nghệ thuật . Có  những tác phẩm đã xuất bản và đạt các giải thưởng .

                         Kính thưa các quan khách !

                        Kính thưa  toàn thể dân làng !

Tính đến nay, làng có gần 500 hộ với 2000 nhân khẩu tại địa phương, gần 1.500 người sinh sống khắp mọi miền đất nước và nước ngoài. Dù đi đâu, ở đâu nhưng hình ảnh đình, chùa, miếu mạo, dòng sông Vĩnh Định, bến đò Thi Ông với luỹ tre làng không bao giờ phai mờ trong lòng người con dân của Làng.

Ở phía Nam, bà con đi vùng kinh tế mới cũng đã lập thôn ấp ở Bàu Cối, Suối Trầu ( Đồng Nai), Trảng Lớn, Sông Cầu ( Bà Rịa Vũng Tàu) và một số nơi ở Bình Phước, TP HCM.

Gần đây nhờ ân đức tiên tổ, làng biết thêm một nhánh con dân họ Võ làng Thi Ông di dân vào định cư ở làng Giu Nghĩa, xã Bình Nam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đã 14 đời .Tộc phả ở đây đã ghi lại, khi đến nơi mới, tộc Võ Văn do ông Võ Văn Hội đã lập làng và được triều đình nhà Nguyễn cấp sắc phong, đến nay đã phát triển nhiều chi phái  ở nhiều vùng quê khác.

Về Sử liệu, trong tộc phả triều Nguyễn có đề cập đến 2 nhân vật có liên quan đến Miên Định Thọ Xương Vương, ông là cháu nội của vua Minh Mạng, con vua Thiệu Trị, đồng hàng với vua Tự Đức. Có người con gái là Công Nữ Hạ Vân, là con thứ 69 có chồng là ông Võ Văn Tuấn người làng Thi Ông, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Cũng trong gia phả này còn có Công Nữ Tuấn Mỹ, bà là con thứ 68 có chồng: Phan Văn Tài, làng Thi Ông, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. ( Có khả năng là Võ Văn Tài vì làng ta không có Phan tộc ).

Trong thời kỳ phong kiến,làng đã có người giữ chức Vệ úy trong triều đình Nhà Nguyễn, có 1 người đỗ Cử nhân, 2 người đỗ Tú tài và nhiều người đỗ Tuyển sanh, Khóa sanh. Có một người bổ làm tri huyện, và 1 đi làm giám thị .

Có thể khẳng định làng Thi Ông tuy nghèo nhưng  đã có truyền thống hiếu học , khuyến học và khuyến tài . Bà con dân làng sống đạo lý, thủy chung, đoàn kết yêu thương, tối lửa tắt đèn có nhau .

Trước năm 1975 làng có nhân sỹ là Dân biểu Quốc hội , nghị viên Hội đồng tỉnh Quảng Trị ở chế độ cũ nhưng rất gần dân, yêu mến dân, có tiếng nói bảo vệ quyền lợi dân . Trong vùng giải phóng, ông Võ Đình Đính, Phó Chủ tịch UBMTDTGPMNVN tỉnh Quảng Trị. ÔngVõ Đình Lương trước khi đi B là Vụ trưởng vụ Kinh tế Văn phòng Phủ Thủ tướng, vào Nam Ông là Trung tá Phó Chủ nhiệm Cục Hậu cần Quân khu Trị Thiên. Ông Võ Văn Tấn, Chủ tịch UBHCKC huyện Hải Lăng thời chống Pháp. Ông Hoàng Đạo, Đại tá Trưởng ban Điệp báo Miền thuộc Phòng 2, Bộ tham mưu Quân Giải phóng Miền Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Ông Võ Văn Đàng làm việc ở Cục Lưu trữ Phủ Thủ tướng, ông Võ Văn Đệ, Trung tá Trưởng phòng Tài vụ Cục Hậu cần Bộ Quốc phòng, ông Võ Đình Mại, ông Võ Văn Bằng và nhiều vị có hàm cấp Tá, cấp Uý….

Ngày nay con cháu có điều kiện học tập nên con dân của làng có học hàm, học vị cao . Có 1 Phó Giáo sư, 7 Tiến sĩ, 15 Thạc sĩ, trên 300 tốt nghiệp Đại học ,điển hình có PGS-TS-BS Võ Minh Tuấn; các TS Võ Đình Quảng, Võ Đình Phi, Võ Đình Minh Đức, Võ Đình Minh Nhật, Võ Văn Sang, Lê Trần Minh Đạt.

Có nhiều người thành đạt trên lĩnh vực chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa giáo dục, y tế, văn học nghệ thuật, báo chí , CNTT …điển hình như vợ chồng ông  Võ Đình Mẫn ( Nguyên giảng viên Đại học ĐHYD TP HCM); Thạc sĩ Võ Tiến Dũng, Thạc sĩ Võ Văn Luyến , Võ Quỳnh Nhi ( Giảng viên Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị); Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng các cấp học: Võ Văn Xuân, Võ Văn Đôn, Võ Văn Nhân, Võ Thị Thanh Nhàn, Võ Đình Hùng…; nhiều thầy giáo dạy giỏi, có tiếng tăm như Võ Đình Đoan, Võ Đình Bồng, Võ Đình Chánh Thi ; Luật sư Võ Đình Minh ; Dược sĩ Võ Văn Mẫn, Võ Thị Huyền; Kiến trúc sư Võ Đình Hiếu, Võ Thị Ngọc Yến ; Các nhà báo Võ Văn Hoàng, Võ Văn Hạ, Võ Văn Lập; các kỹ sư: Võ Đình Minh, Võ Văn Quang Sinh, Võ Việt Hùng , Võ Văn Hưng, Võ Thị Lệ Hằng, Võ  Hoàng Khắc Phục, Võ Hoàng Nhật Khánh, Võ Cao Trí , Võ Văn Tài, Võ Văn Anh, Võ Đình Thuần, Võ Đình Thìn, Võ Đình Cường…;  ThS Võ Thị Hải, ThS Võ Lê Duy Đức và nhiều người khác ; lĩnh vực Văn học Nghệ thuật có nhà thơ Võ Văn Luyến, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị ; về lĩnh vực y tế ngoài các bác sĩ thành danh nói trên, còn có nhiều cán bộ đã, đang công tác trong ngành Y là con em dân làng, đặc biệt có 3 sinh viên Đại học Y Dược Huế học rất giỏi là Võ Cao Tiến, Võ Đình Phú, Võ Văn Sót. Đại học Kiến trúc Đà Nẵng có em Võ Đình Vinh . Chưa kể con em thành đạt ở nước ngoài chưa thống kê được !

Qua các thời kỳ, có nhiều vị tham gia cấp ủy Huyện, Thị, Thành phố; Trưởng phó phòng ban cấp Tỉnh, Huyện, Thị, Thành phố, Ngành như anh Võ Hải Linh, Võ Văn Phương…, Giám đốc các Trung tâm, các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh như anh Võ Văn Hoàn, Lê Lữ, Võ Văn Kiệm, Võ Đình Thượng ; nhiều tu sĩ như Thích Thiện Huệ, Thích Minh Thông, Thích Đức Trí ( đã mất ) ; Thích Tâm Hiệp , …nhiều người tham gia hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện nổi bật có Đại đức Thích Tâm Hiệp, anh Võ Đình Hương !

Có 3 con dân của làng được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý : Thầy thuốc Ưu tú: Bs Võ Minh Tuấn , Bs Võ Đình Khuynh và  Nhà giáo Ưu tú : Võ Văn Hoa.

Trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm, dân làng Thi Ông đã có nhiều cống hiến lớn lao về công của và xương máu. Thực hiện khẩu hiệu “Thà hi sinh tất cả chứ không để mất làng, mất nước” như Hồ Chủ tịch đã dạy, dân làng Thi Ông cũng như những làng khác, luôn đấu tranh để tồn tại và trưởng thành. Người dân Làng không chịu khuất phục trước áp bức, nhiều trai đinh tham gia Cần Vương và có người đã ngã xuống. Đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, với truyền thống yêu quê hương, dân Làng đã kề vai sát cánh bên nhau đấu tranh chống giặc, góp phần vào thắng lợi vẻ vang của đất nước. Đến nay, đã được Nhà nước phong tặng 9 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, trong đó có gia đình cả mẹ chồng, con dâu, em gái,  cháu dâu được truy  tặng, phong tặng như gia đình anh Võ Văn Quang Sinh ; suy tôn 53 liệt sĩ (có thân nhân ở Làng và định cư nơi khác) có gia đình 3 thế hệ 6 người thân là liệt sĩ, 11 thương binh, 8 người hoạt động kháng chiến nhiễm chất độc hóa học, 78 người có công với nước và đã có nhiều người được tặng thưởng Huân chương, huy chương các loại. Làng đã cùng với cả xã Hải Vĩnh, cả huyện Hải Lăng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

         Kính thưa quý vị, Thưa toàn thể dân làng!.

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử “Đá trôi nhưng làng không trôi”, bà con dân làng dù đi đâu cũng nhớ về nguồn cội.

Làng ở địa thế trung tâm xã nên các công trình công cộng của xã Hải Vĩnh xây dựng trên địa bàn như: Trường học 3 cấp (mầm non, tiểu học, trung học). Trạm Y tế xã. Trụ sở HĐND-UBND xã, Điểm Bưu điện văn hóa, sân bóng đá, Nghĩa trang liệt sĩ xã, Thư viện Phụ nữ và cầu qua sông bê tông vĩnh cửu hoàn thành năm 2011, thay cầu sắt do HTX xây dựng năm 1981 và thay đò ngang đều trên đất Thi Ông. Đấy là một thuận lợi lớn cho làng.

Vượt qua muôn vàn khó khăn với  sự nổ lực phấn đấu, chung tay góp sức của dân Làng trong và ngoài nước, đến nay hầu hết các di tích lịch sử của Làng đều được tái tạo, cuộc sống của dân Làng đã đi vào ổn định để xây dựng nông thôn mới  trong thiên niên kỷ mới.

Về giáo dục, làng đặc biệt chú trọng đến việc học hành của con em, chính vì thế mà con em trong làng đều được Phổ cập Giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập Trung học Cơ sở, đại đa số con em đến tuổi trưởng thành đều tốt nghiệp THPT. Nhiều em vươn lên thành đạt được Nhà nước bổ nhiệm vào làm việc trong các cơ quan hoặc các công ty nước ngoài hoặc  thành lập  công ty riêng .

Làng đang thành lập quỹ khuyến học để khuyến khích các con em học giỏi hằng năm. Làng thực hiện việc đám tang, lễ hội theo phong tục tập quán và theo nếp sống mới. Chăm sóc gia đình thương binh liệt sĩ, gia đình neo đơn, con em mồ côi tàn tật, việc làm tình nghĩa, …

Trong việc phát triển kinh tế Làng, xem HTX là nơi thuận lợi nhất cho sản xuất nông nghiệp, do vậy, các cơ sở hạ tầng như công trình điện với 100% hộ, đường giao thông liên hộ, liên xóm đã, đang được bê tông hóa, cầu qua sông bằng bê tông cốt thép vĩnh cửu thay đò ngang, hệ thống thủy lợi được kiên cố hóa, hội trường, nhà kho, trường học, trạm xá của cả xã đều nằm trên đất Thi Ông và các công trình khác đã được xây dựng giá trị tài sản cố định hơn 10 tỷ đồng. Ngoài việc phát triển kinh tế tập thể, việc mở mang kinh tế hộ gia đình hằng năm đều được coi trọng. Các tổ hội như tổ làm nhà, làm sân, làm vườn… đã được thành lập và mang lại hiệu quả tốt đẹp. Đến nay đã có gần 100% nhà dân lợp ngói, 70% nhà xây kiên cố, tỉ lệ hộ đói nghèo giảm xuống mức thấp nhất, các công trình phụ, nước sạch đã đến với 100% số hộ, phần lớn các gia đình đều có các phương tịên đi lại và nghe nhìn.

Trên mảnh đất thân thương ghi đậm dấu ấn tình Làng nghĩa xóm đã bao đời sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống dân Làng, ngày nay làng Thi Ông đã tham gia HTX chuyển đổi, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất trên tổng diện tích gieo trồng cả năm 272 ha, trong đó 255 ha lúa, 17 ha màu. Năng suất lúa bình quân 10-12 tấn/ha/năm. Tổng sản lượng lương thực đạt xấp xỷ 1500 tấn. Bình quân mức ăn gần 1000 kg/người/năm. HTX đang phấn đấu đưa năng suất lúa lên cao hơn, chất lượng hơn và chuyển đổi cây trồng, con giống mang lại hiệu quả kinh tế cao để nâng thu nhập ngày một cao hơn.

Với truyền thống tốt đẹp từ bao đời để lại, dân làng ý thức cao về  bảo tồn bản sắc văn hoá  dân tộc, biết gạn đục khơi trong, tiếp thu những tinh hoa văn hoá mới phù hợp với cuộc sống của một làng quê trong thời đại mới, chung lưng đấu cật tiếp tục xây dựng quê hương .

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, làng chúng ta cũng cần tiếp tục nâng cấp , phát triển cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, thâm canh tăng năng suất, khuyến khích con em xuất khẩu lao động…tạo dựng bộ mặt nông thôn mới !

hoatuyetThi Ông, 10/4/2017

VÕ VĂN HOA & VÕ VĂN QUANG SINH

 

 

Võ Đình Hương ĐÔI BẠN LÀNG QUÊ

huong

         Những ngày cuối đông, trời năm nay thời tiết khác hơn những năm trước, mưa tầm tã và rét buốt da. Tuy vậy, tôi vẫn tất tả công việc sinh sống bất chấp thời tiết của ngày đông mà quên cả thời gian. Hôm nay ngồi nhìn trên tường tấm lịch đứa con đã thay mới (ngày 12/01/2017 – 15/12/Bính Thân), à thì ra mấy ngày nữa tôi đã bước sang 72 tuổi (Tuổi Bính Tuất). Chuỗi ngày đi qua trong đời cũng có nhiều cái để nhớ và nhiều việc để quên! Nhìn lên chỗ để sách vở, tôi thường đọc chỉ có mấy cuốn “Phật Học Phổ Thông”, “Kinh Nhật Tụng” và 3 tập thơ của nhà thơ Võ Văn Hoa (Người mà lâu nay tôi quí và xem như anh em ruột thịt, như người bạn đời) đã tặng tôi. Tập “Còn ta với mình” , Hoa gởi tặng tôi ngày 1/4/2014, tập “Gió cuối mặt sông” ngày 5/8/2008, tập “Phù Sa Tình” ngày 9/9/2012 (Những tập thơ này tôi đã đọc nhiều lần), ký ức tuổi thơ hiện về, thôi thì viết đôi dòng tâm sự dù dở dù hay gởi tặng  Hoa :

“Để mai kia hết xuân thì

Cái tình thân ấy mang đi đến cùng”

Tôi và chú Hoa đều sinh ra và lớn lên ở làng Thi Ông. Một cái làng quê xa ngái thị thành. Con người làng tôi sống với nhau rất chân tình, mộc mạc. Còn tôi và Hoa đều con nhà nghèo. Thời thơ ấu cha tôi vì thời cuộc mà lên đường. Mẹ tôi ở nhà một mình phải nuôi 4 đứa con dại nên việc học hành của tôi vô cùng lận đận. Vào tiểu học, tôi phải nghỉ học 5 năm để chăn bò. Sau khi cha tôi về, tôi mới được đi học lại. Mặc dầu vậy, ở bậc tiểu học. tôi luôn đạt loại giỏi. Vì gia đình nghèo nên tôi vừa học vừa kiếm tiền bằng việc dạy kèm. Năm vào đệ Thất (lớp 6) Trường Trung học công lập Hải Lăng,  tôi thường mở lớp dạy hè ở quê ngoại. Năm đệ Lục, tôi được cô Đại úy Khuê ở chợ Diên Sanh đem về nhà dạy kèm cho các em Trần Thị Loan và Trần Xuân An (nhà thơ hiện nay). Lên cấp III , học ở trường trung học Nguyễn Hoàng – Quảng Trị, tôi được thầy Lê Quang Thái và cô Lê Thị Tránh đem về nhà dạy kèm cho Lê Quang Trung. Sau đó làm thư ký cho xưởng giặt FatiMabary ở đường Phan Chu Trinh – Quảng Trị. Năm 1971, tôi thi đỗ Tú tài toàn phần (Tú tài II). Năm đó áp dụng tân toán học đầu tiên. Ban B của tôi chỉ đạt 18% đợt I, rồi sau đó tôi đỗ vào trường Sư phạm Huế và học thêm ở trường Đại học Luật khoa. (có điều, do tôi tuổi lớn nên làm Trưởng lớp từ cấp I đến cấp III, do vậy, bạn bè gọi tôi là ông Thôn trưởng).

Còn chú Hoa cũng vậy:

         “Thời gian khó nhà đong từng bữa gạo

         Nếp gia phong từng mũi chỉ đường kim”

(Bố –   thơ Võ Văn Hoa)

Mặc dầu vậy, nhưng tuổi thơ của Hoa ít lận đận hơn tôi. Những năm tháng kinh tế khó khăn, khoai sắn độn cơm, rau lang chắm ruốc thay canh cá nhưng chú thím ở nhà vẫn tần tảo chịu thương, chịu khó để nuôi con cái học hành. Ở làng tôi,  gia đình chú Hoa bây giờ vẫn được mọi người công nhận là gia đình “Thật thà – Phúc đức” nhất. Tuổi nhỏ Hoa học trường tiểu học Thi Ông, lên cấp II học trường công lập Hải Lăng, cấp III vào trường trung học Nguyễn Hoàng – Quảng Trị, rồi vào trường Sư phạm Huế. Những năm tháng chiến tranh dân Quảng Trị phải di tản đi nơi khác, việc học hành đôi lúc bị bỏ dỡ, để có tiền tiếp tục việc học Hoa phải đi làm “Cai áo xanh” chương trình làm sạch thành phố (giống như công ty môi trường bây giờ). Tuổi thơ hai anh em ít chơi với nhau, nhưng mến thương nhau, vì ở làng thời ấy ít người đi học. Đặc biệt khi vào Huế tôi vào Sư phạm trước chú Hoa 1 khóa. Khi nghe tin chú Hoa đỗ vào trường Sư phạm tôi rất vui mừng, thời đó có giáo sư Lê Quang Thái người Cổ thành Quảng Trị dạy môn Sư phạm giáo dục, thầy rất thương và quí anh em chúng tôi. Người ta thường bảo “Những người cùng hoàn cảnh thì thương nhau”. Có lẽ như thế mà tôi và chú Hoa hoàn cảnh con nhà nghèo, cùng làng lại sống tha hương nên rất thương nhau. Mặc dầu không giúp nhau được gì nhưng trong lòng lúc nào cũng có nhau. Tôi ra trường trước Hoa, do thi tốt nghiệp đỗ cao nên tôi chọn nhiệm sở ở Huế để tiếp tục học thêm trường Đại học Luật khoa, còn Hoa ra trường thì về Quảng Trị và sau đó tiếp tục học ở trường Đại học Sư phạm Huế, tốt nghiệp Cử nhân khoa Ngữ văn, lúc đó anh em ít được gặp nhau. Năm 1975 đất nước hòa bình thống nhất. Bước đầu việc giáo dục chưa đi vào nề nếp, tôi được Phòng Giáo dục huyện Quảng Điền điều về phụ trách bổ túc văn hóa ở xã Quảng Phú. Đến đầu năm 1977 xếp bút nghiên trở lại quê nhà lao động sản xuất làm người nông dân chân lấm, tay bùn. Cái ngày ấy khi trở về nhà là điều đau buồn nhất của cuộc đời tôi. Nhưng cha mẹ tôi có lẽ cũng đau buồn như tôi. Mẹ tôi cố gượng cười và bảo con hãy về đây với cha mẹ, người ta sống được thì mình sống được, việc gì phải buồn. còn cha tôi thì đêm ấy cứ đi ra đi vào, rồi thở dài nhưng có lẽ sợ tôi buồn nên không nói điều chi. Đến hôm nay tôi vẫn thấm thía và hiểu tình thương của cha mẹ như non ngàn biển cả. Bạn bè lúc đó tan tác. Ở quê nhà chú Hoa đang dạy học ở đâu đó có viết cho tôi lá thư có mấy hàng. Tôi không nhớ rõ nhưng ý là rất thương tiếc cho tôi ! Tôi chỉ nhớ câu cuối cùng Hoa nói “Anh là quân tử thời nay”. Cuộc sống cứ thế mà trôi theo thời gian. Chú Hoa theo nghiệp “Kỹ sư tâm hồn”,  phấn đấu từ một giáo viên đến làm Quản lý trường học , sau đó về công tác ở Phòng Giáo dục và Đào tạo Hải Lăng giữ chức vụ Phó Trưởng phòng  và được Nhà nước phong tặng “Nhà giáo Ưu tú”. Đó là niềm tự hào của một nhà giáo!

Trong cuộc sống Hoa còn  là một nhà thơ được rất nhiều người yêu mến, trong đó, có tôi kể cả thơ của thầy giáo – nhà thơ Võ Văn Luyến (em ruột của Hoa). Nhớ lần đến viếng lễ tang thân mẫu của hai chú, trong bài điếu văn tôi có viết “… con của cụ có người ăn học thành tài đã giúp ích cho đời, cho xã hội, đã đem tâm tình của cha mẹ nuôi dạy trang trải trên những vần thơ. Được mọi người yêu mến, xã hội ngưỡng mộ cái công lao sinh thành dưỡng dục của cụ đối với đàn con …”, “ … chín mươi mốt năm qua những giọt mồ hôi của cụ nhỏ xuống đã ươm mầm để những đóa hồng đang sinh sôi nảy nở…”.

Tôi thích con người Võ Văn Hoa hiền từ giản dị, đó là hình ảnh kế thừa nền nếp của gia đình. Tôi yêu mến thơ của Hoa hồi còn học ở trường Sư phạm Huế. Nói đến thơ của Hoa và Luyến thì đã có rất nhiều người bình giải. Riêng tôi trong trình độ hạn hẹp cũng như ở chỗ anh em nên không nói nhiều. Có điều là từ nhỏ đến giờ tôi thích dọc thơ và hát nhạc trữ tình. Ở trong thơ chú Hoa mộc mạc, dễ hiểu lúc nào cũng nói lên được tình cảm, phong cảnh quê hương, làm cho tôi đam mê con người ấy. Có điều không nói ra nhưng trong Hoa, Luyến lúc nào cũng dành cho tôi tình cảm sâu đậm. Sống một mình ở cái chốn vùng sâu, vùng xa anh em bạn bè ít khi gặp gỡ, những lúc buồn vui trong cuộc sống tôi đều nhớ đến bạn bè. Cảm ơn những người bạn, người anh em đã thấu hiểu hoàn cảnh mà bây giờ vẫn nhớ đến hoặc đã quên tôi. Còn chú Hoa đối với tôi lúc nào cũng là một người em, một người bạn tâm tình !

Tự hào thay cho làng Thi Ông đã sinh ra những con người đem vinh dự về cho quê hương trong đó có nhà giáo Ưu tú- nhà thơ Võ Văn Hoa, nhà giáo- nhà thơ Võ Văn Luyến. Một trong những ký ức tuổi thơ. Tôi viết đôi dòng về anh em, về đôi bạn từ trẻ đến giờ mãi là “Đôi bạn Làng Quê” làng Thi Ông xã Hải Vĩnh.

Viết đêm 15/12 năm Bính Thân 12/01/2017

                                                    Võ Đình Hương

 

Nhập tin nhắn…

 

Top of Form

 

HỒ SƠ VĂN HỌC VÕ VĂN LUYẾN 2017

HỒ SƠ VĂN HỌC

VÕ VĂN LUYẾN

——————

Quá trình hoạt động văn học nghệ thuật

Tác phẩm đầu tiên được đăng trên tạp chí Sông Hương sau khi đoạt giải thưởng Cuộc thi thơ sinh viên , Trường Đại học Sư phạm Huế  năm 1984. Từ đó đến nay,  hơn 500 tác phẩm thơ và văn xuôi đã được đăng trên các báo, tạp chí TW và địa phương. Có 4 tập sách và 01 đĩa CD sản phẩm âm nhạc (30 bài thơ phổ nhạc)  cá nhân được xuất bản và phát hành, chưa kể đến sự góp mặt trong gần 30 tuyển tập thơ văn trong nước và trong tỉnh.

Từ sáng tác, tôi được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị năm 1991. Nhờ hoạt động VHNT tích cực, nhiệt tình và có hiệu quả, tôi được bầu vào Ban Chấp hành Phân hội Văn học từ năm 2003. Năm 2008, tiếp tục được tín nhiệm bầu vào BCH Phân hội Văn học, với chức danh Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Phân hội Văn học. Đến năm 2014, được bầu vào BCH Hội VHNT Tỉnh nhiệm kỳ 2014 – 2019; với chức danh Ủy viên Thường vụ, Ủy viên Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội VHNT tỉnh Quảng Trị.

Tác phẩm và công trình chính

  1. Trầm hương của gió (tập thơ) – NXB Thuận Hoá, 2003
  2. Sự trinh bạch của ngọn nến (tập thơ) – NXB Hội Nhà văn, 2007
  3. Người câu bóng mình (tập thơ) – NXB Hội Nhà văn, 2011
  4. Đối ngọn đèn khuya (nghiên cứu và phê bình), NXB Thuận Hóa, 2014
  5. Sẽ có ngày tôi về (CD thơ phổ nhạc), 2006

 

Góp mặt trong các tập/ tuyển

* Bài thơ viết trên tầng ba trường đại học – 1985

* Thơ trẻ Huế – 1986

* Còn đây thương nhớ – Hội VHNT Quảng Trị, 1993

* Thơ tình bốn phương – NXB Trẻ, 1995

* Lục bát tình – NXB Đồng Nai, 1997

* Một ngàn năm thơ Tứ tuyệt Việt Nam – NXB Văn hoá dân tộc, 1998

* Cơn bão đá – Hội VHNT Quảng Trị, 1998

* Thơ trẻ chon lọc 1994 – 1998, NXB Văn hoá dân tộc, 1998

* Non Mai sông Hãn ( thơ văn Quảng Trị thế kỷ XX) – NXB Văn hoá thông tin, 1999

* Gương mặt thời gian (I) – NXB Thuận Hoá, 2002

* Tình đất Triệu Phong – Sở VHTT Quảng Trị, 2003

* Tấm lòng nhà giáo (III) – NXB Giáo dục, 2003

* Gói mây trong áo – NXB Trẻ, 2003

* Thơ nhà giáo – NXB Văn hoá dân tộc, 2004

* Mạch nguồn Hải Lăng – Sở VHTT Quảng Trị, 2004

* Dạ thưa xứ Huế (Những bài thơ hay Huế thế kỷ XX) – NXB Văn hoá thông tin, 2004

* Tác phẩm chọn lọc – Hội VHNT Quảng Trị, 2005

* Tấm lòng nhà giáo (VI) – NXB Giáo dục, 2006

* Gương mặt thời gian (II) – NXB Thuận Hoá, 2007

* Gạch hồng Thành Cổ – NXB Thuận Hoá, 2007

* 700 năm thơ Huế – NXB Thuận Hoá, 2008

* Cam Lộ khát vọng yêu thương – NXB Thuận Hoá, 2009.

* 87 và tôi – NXB Lao động, 2009; v.v…

* Trầm tích Gio Linh – NXB Đại học Huế, 2012

* 5 năm văn học Quảng Trị (2007 – 2012) – NXB Hội Nhà văn, 2012

*Thơ tuyển 250 số tạp chí Cửa Việt – NXB Hội Nhà văn, 2015

………. và nhiều truyện ngắn, tản văn khác

 

 

 

Giải thưởng, khen thưởng

 

  1.  Giải thưởng của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam  và Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh Quảng Trị về tập thơ “Sự trinh bạch của ngọn nến” năm 2007;
  2. 2. Giải Ba – Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Chế Lan Viên lần thứ nhất tỉnh Quảng Trị (giai đoạn 1989 – 2015)
  3.  Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh Quảng Trị năm 2011 về tập thơ “Người câu bóng mình”
  4. Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh Quảng Trị năm 2014 về tập nghiên cứu và phê bình “Đối ngọn đèn khuya”
  5. Giải B (không có giải A) sáng tạo VHNT Tỉnh năm 2003 về tập thơ “Trầm hương của gió”
  6.     Giải thơ Dự thi tạp chí Cửa Việt (2 giải) các năm 1996 – 1997; 2011 – 2012
  7. Giải Thi thơ sinh viên năm 1984;
  8. Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật” (2016)
  9. Giấy Chứng nhận đã có thành tích xuất sắc viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2010, do Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị- Trưởng ban Chỉ đạo ký theo Quyết định số 13QĐ/BCĐ ngày 27/9/2010.
  10. Giấy Chứng nhận đạt giải Khuyến khích cuộc thi sáng tác và quảng bá các tác phẩm VHNT về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2011, do Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị- Trưởng ban Chỉ đạo ký theo Quyết định số 15 ngày 26/9/2011
  11. Giấy Khen tặng Cộng tác viên tạp chí Cửa Việt, đã có nhiều thành tích xuất sắc đóng góp xây dựng tạp chí trong 20 năm, do Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Trị ký ngày 05/01/ 2012.
  12. Giải báo Quảng Trị về đề tài “Người tốt, việc tốt” năm 1992, và

nhiều khen tặng khác về VHNT.

 

 

 

 

aluyen

Thơ Võ Văn Hoa & Võ Văn Luyến …trên Báo QUẢNG TRỊ số tết Đinh Dậu 2017 .

TIN VUI VĂN NGHỆ MỚI NHẬN :

Chân thành cảm ơn BBT và trân trọng giới thiệu cùng bạn bè !
Võ Văn Hoa
BỨC TRANH GÀ

Lặn sâu ở vùng đất cuộc đời
Thụ cảm bài ca lạc quan “ Mười cái trứng”
Phác thảo trận đồ thi hứng
Bức tranh gà làng tôi !
*
Mùa xuân đã về rồi
Cơn mưa đầu dư ảnh
Chiêm chiếp đàn gà đồi
Hương thơm vườn sải cánh
*
Đêm như chừng hong lạnh
Đêm như chừng hoang mây
Gà nhà ai gáy sáng
Báo thức xuân đang đầy !
*
Có con gà mái mẹ
Bên tôi suốt đời này
“ Tổ ấm” xây xây mãi !
Tranh xuân rạng ánh ngày …
VVH
………….
Võ Văn Luyến.
CHIM , ĐẤT VÀ MÙA XUÂN

Con chim vẫn đậu đất lành
Thời gian hoá bướm trời xanh bay vào
Nụ cười hai nửa nghiêng chao
Lửa lòng một ngọn tâm bào mênh mang

Nghe mùa nhắc gió tây nam
Nghe tôi nóng chảy đá vàng thiên thu
Âm âm đáy lũng sương mù
Thềm hoang biệt dấu ưu tư ai cầm

Chạm vào lạnh toát bàn chân
Bay lên vọng nhớ âm thầm đất đai
Dễ còn chưa mỏi dặm dài
Sải tìm bóng núi lại hoài hình sông

Đời còn có chỗ bao dung
Tôi về tôi tháng năm cùng sang xuân.

VÕ VĂN LUYẾN

* Ngân Hoa ( PV báo Quảng Trị ) TRANG ĐỜI – TRANG THƠ CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG

* 15 NĂM TRƯỚC trên Báo Quảng Trị cuối tuần số 1515 ra ngày 23/11/2002
* Ngân Hoa ( PV báo Quảng Trị )
TRANG ĐỜI – TRANG THƠ CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG
Có lẽ không đâu như ở Hải Lăng một vùng quê úng trũng, đồng đất chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã khô lại xuất hiện nhiều nhà giáo – nhà thơ đến vậy. Họ là những cán bộ quản lý, giáo viên đứng lớp không chỉ chăm lo cho sự nghiệp “trăm năm trồng người” mà còn là những con tằm nhả tơ, dệt niềm vui cho đời bằng những bài thơ nhẹ nhàng, ấm áp.
Hơn 10 năm qua, phong trào sáng tác văn học ở ngành Giáo dục Hải Lăng đã nở rộ thông qua các cuộc thi thơ, văn, bình chọn những tác giả, tác phẩm trong nhà trường, mảnh đất mà họ gieo ươm để cho ra đời những tác phẩm hay được đánh dấu suốt 12 năm qua trên các tập san HOA ĐẦU MÙA.
…Hai anh em ruột cùng một lò đào tạo ĐHSP mà ra, nhà giáo – nhà thơ anh là Võ Văn Hoa, đương chức Phó Trưởng phòng GD &ĐT Hải Lăng, đã có thơ đăng suốt 27 năm qua trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương, đã từng đoạt giải 3 cuộc thi thơ trên tạp chí Cửa Việt năm 1996, giải thưởng phóng sự đăng trên báo Quảng Trị “Những bác sĩ của ruộng đồng” năm 1998. Đã có lần anh Hoa bộc bạch:
Em thì đi ngang mà thơ thì đi dọc
Em và thơ ngang dọc suốt đời tôi…
Gần đây nhất trên báo Quảng Trị cuối tuần ra ngày 2/11/2002, thơ anh viết:
Em nói rằng: trái tim đã đến tận cùng
Vẫn có những điều không thể nói
…Cơn gió nào thoáng qua miền cổ tích
Em nói rằng: phía ấy có trong nhau…
Nhà giáo, nhà thơ em – Võ Văn Luyến, đã trải qua những tháng năm trong đời quân ngũ, rồi sinh viên trường ĐHSP, ra trường về công tác tại trường CĐSP Quảng Trị. Võ Văn Luyến luôn đau đáu, tâm huyết gắn bó với văn chương, thơ đã quyện chặt vào máu thịt của anh. Cũng như Võ Văn Hoa, thơ của Võ Văn Luyến đã đăng tải ở nhiều tờ báo, tạp chí và còn giành được nhiều giải thưởng. Sống trong một gia đình nề nếp gia phong, được người cha kính yêu truyền lại dòng máu thơ ca nên anh đã:
Giữa muôn làn điệu dân ca
Trong cha một Huế thiết tha mặn nồng
Để rồi:
…Thơ con khơi tự nguồn cha theo về”
(Tuổi già của cha giữa câu ca Huế)
Với nghề nghiệp anh đã :
…Thời gian cho con đâu được nhiều hơn
Ngày đi dạy bên trang giáo án
Chong thức với nghĩa đời quá lớn
…Những trang đời – trang thơ của các nhà giáo Hải Lăng vẫn còn mãi chảy, đó là chắt lọc cuộc sống hiện tại và là niềm tin yêu của tương lai. Tin rằng trang giáo án – trang đời – trang thơ sẽ quyện chặt, chảy mãi và thăng hoa cùng họ trên hành trình giáo dục vẻ vang của nhà giáo- nhà thơ ấy.
Ngân Hoa
(PV báo Quảng Trị)

(Báo Quảng Trị cuối tuần
số 1515 ra ngày 23/11/2002)

Trong hình ảnh có thể có: thực vật, ngoài trời và thiên nhiên

VÕ VĂN LUYẾN với bài PHÁT BIỂU NHẬN GIẢI THƯỞNG VHNT CHẾ LAN VIÊN TỈNH QUẢNG TRỊ LẦN THỨ NHẤT (TỪ 1989 – 2015)

ĐẠI DIỆN clv

Kính thưa Quý vị!
Trước hết, cho phép tôi gửi lời chào trân trọng, lời cám ơn chân thành, lời chúc sức khỏe dồi dào đến các vị lãnh đạo Tỉnh, đại diện lãnh đạo các cơ quan ban ngành trong tỉnh.
Những người làm văn nghệ được vinh danh và nhận giải thưởng hôm nay có đủ các thế hệ. Thiết nghĩ, mỗi người luôn sẵn mang tiếng nói của riêng mình. Hơn nữa, trước mắt tôi còn có những bậc đàn anh, đàn chị với sự cống hiến, đóng góp vào nền văn nghệ tỉnh nhà, nước nhà thật đáng nể trọng. Vì vậy, tôi xin được nói đôi điều ngắn gọn với tư cách cá nhân, nhưng vẫn không quên hướng đến tư cách rộng mở, nói như nhà thơ cộng sản Pháp Paul Eluard rằng là, đi “từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả”.
Lễ trao Giải thưởng VHNT CLV lần thứ 1 lần này là niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm mong đợi của VNS và của công chúng yêu nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Sự kiện quan trọng này không chỉ ghi nhận, động viên mà còn kích hoạt mạnh mẽ nội năng sáng tạo, và sự phấn khích của những người hoạt động nghề nghiệp chuyên và không chuyên trên lĩnh vực VHNT.

Kính thưa Quý vị!
Nghệ thuật, một khi đáp ứng được sứ mệnh cao cả, trước tiên, “nó thể hiện rõ khát vọng của nghệ sĩ về chân lý đời sống, về chân thiện mỹ bằng cảm hứng mãnh liệt, cảm quan tiến bộ trên cơ sở hướng tới cái cần có nên có, chứ không chỉ là vốn có”. Tất cả được lý giải, đánh giá, biểu biện theo khuynh hướng hướng thượng, hướng thiện, hướng mỹ cùng với việc khẳng định những giá trị nhân bản, nhân văn mang ý nghĩa trường tồn.
Thời đại kỹ trị đã đưa con người vào thế giới văn minh, và như một tất yếu, cũng đẩy con người hiện đại đến những nguy cơ khác, không lường hết được. May mắn thay, nói như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cứu nguy bất cứ lúc nào nhờ vào “ tác dụng to lớn, sâu rộng, bền bỉ” không ai khác, không gì khác, đó chính là VHNT.
VHNT làm thay đổi một điều gì đó ở con người, ngay từ khi còn đi học. Nguyễn Đức Tùng, một bác sĩ quê Quảng Trị sống ở Canada, trong một tiểu luận theo đơn đặt hàng viết sách giáo khoa ở trong nước, rất chí lý khi cho rằng, “một người loại trừ văn chương [VHNT nói chung, tôi nhấn mạnh] ra khỏi đời sống,…chỉ cốt ra đời hành nghề có lương cao, là tự hạ mình xuống, làm mình nhỏ lại, thành một người chỉ sống vì các nhu cầu tối thiểu như ăn mặc ở. Một cá nhân như thế có thể thành công về mưu sinh, địa vị nhưng sẽ trưởng thành không trọn vẹn”.

Kính thưa Quý vị!
Sáng tạo, ở bất cứ lĩnh vực nào, là cuộc hành trình đầy nhọc nhằn, khó khăn, và không ít thử thách. Ở lĩnh vực VHNT, sự lao tâm khổ tứ của người nghệ sĩ có cái gì giống như cách tự nguyện đóng thập giá để được mang vác “thú đau thương” đời mình. Ai cũng bảo dân văn nghệ vui vẻ, thoải mái. Nhưng nhiều khi lại quên, đó là sự hồn nhiên trong trầm tư, sự hạnh phúc trong đắng đót, không chừa một ai trên trái đất này, từ xưa đến nay. Cái cách bày biện món ăn tinh thần của người nghệ sĩ cũng thật lạ, thu hết nắng mưa cuộc đời dội xuống nhưng tâm hồn luôn “gạn đục khơi trong” làm đẹp cho đời. Nhà thơ tài hoa Thi Hoàng từng dùng thi ảnh rất đẹp và trầm sâu ý tứ để nói về những người “trồng cây nghệ thuật” thật lộng lẫy nhưng lại giấu đi ở bên trong vô vàn cái quặn thắt:
Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc
Trời thì xanh như rút ruột mà xanh
Điều nữa, cuối cùng, xin được thưa rằng, giải thưởng là kết quả nhưng không là kết thúc của sự sáng tạo, sự đóng góp của mỗi văn nghệ sĩ “cho hôm nay và cho cả ngày mai”. Tác phẩm hay nhất luôn nằm trong sự ấp ủ, trong khát vọng, ở phía trước. Vì thế, mỗi chúng tôi luôn đặt ra trách nhiệm và bổn phận đối với quê hương đất nước, với dân tộc, nhân dân của chúng ta ngày một cao hơn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các đ/c lãnh đạo Tỉnh ủy,HĐND, UBND, MTTQVN tỉnh ;đại diện lãnh đạo các sở, ban ngành đã đến động viên và chia sẻ!
Lần nữa, xin trân trọng cám ơn!

VoVanLuyen

thơ Thượng tọa Thích Tín Thuận tặng Võ Văn Hoa

ttt
ĐỌC “PHÙ SA TÌNH”
Vun biền đắp bãi giọt phù sa
Gửi gắm dòng sâu nghĩa đậm đà
Mặc lở hay bồi cơn lũ cuốn
Ân tình vẫn thắm trải đồng xa./.
10.01.2016
TTT

Previous Older Entries

Cháu ngoại