Võ Đình Hương ĐÔI BẠN LÀNG QUÊ

huong

         Những ngày cuối đông, trời năm nay thời tiết khác hơn những năm trước, mưa tầm tã và rét buốt da. Tuy vậy, tôi vẫn tất tả công việc sinh sống bất chấp thời tiết của ngày đông mà quên cả thời gian. Hôm nay ngồi nhìn trên tường tấm lịch đứa con đã thay mới (ngày 12/01/2017 – 15/12/Bính Thân), à thì ra mấy ngày nữa tôi đã bước sang 72 tuổi (Tuổi Bính Tuất). Chuỗi ngày đi qua trong đời cũng có nhiều cái để nhớ và nhiều việc để quên! Nhìn lên chỗ để sách vở, tôi thường đọc chỉ có mấy cuốn “Phật Học Phổ Thông”, “Kinh Nhật Tụng” và 3 tập thơ của nhà thơ Võ Văn Hoa (Người mà lâu nay tôi quí và xem như anh em ruột thịt, như người bạn đời) đã tặng tôi. Tập “Còn ta với mình” , Hoa gởi tặng tôi ngày 1/4/2014, tập “Gió cuối mặt sông” ngày 5/8/2008, tập “Phù Sa Tình” ngày 9/9/2012 (Những tập thơ này tôi đã đọc nhiều lần), ký ức tuổi thơ hiện về, thôi thì viết đôi dòng tâm sự dù dở dù hay gởi tặng  Hoa :

“Để mai kia hết xuân thì

Cái tình thân ấy mang đi đến cùng”

Tôi và chú Hoa đều sinh ra và lớn lên ở làng Thi Ông. Một cái làng quê xa ngái thị thành. Con người làng tôi sống với nhau rất chân tình, mộc mạc. Còn tôi và Hoa đều con nhà nghèo. Thời thơ ấu cha tôi vì thời cuộc mà lên đường. Mẹ tôi ở nhà một mình phải nuôi 4 đứa con dại nên việc học hành của tôi vô cùng lận đận. Vào tiểu học, tôi phải nghỉ học 5 năm để chăn bò. Sau khi cha tôi về, tôi mới được đi học lại. Mặc dầu vậy, ở bậc tiểu học. tôi luôn đạt loại giỏi. Vì gia đình nghèo nên tôi vừa học vừa kiếm tiền bằng việc dạy kèm. Năm vào đệ Thất (lớp 6) Trường Trung học công lập Hải Lăng,  tôi thường mở lớp dạy hè ở quê ngoại. Năm đệ Lục, tôi được cô Đại úy Khuê ở chợ Diên Sanh đem về nhà dạy kèm cho các em Trần Thị Loan và Trần Xuân An (nhà thơ hiện nay). Lên cấp III , học ở trường trung học Nguyễn Hoàng – Quảng Trị, tôi được thầy Lê Quang Thái và cô Lê Thị Tránh đem về nhà dạy kèm cho Lê Quang Trung. Sau đó làm thư ký cho xưởng giặt FatiMabary ở đường Phan Chu Trinh – Quảng Trị. Năm 1971, tôi thi đỗ Tú tài toàn phần (Tú tài II). Năm đó áp dụng tân toán học đầu tiên. Ban B của tôi chỉ đạt 18% đợt I, rồi sau đó tôi đỗ vào trường Sư phạm Huế và học thêm ở trường Đại học Luật khoa. (có điều, do tôi tuổi lớn nên làm Trưởng lớp từ cấp I đến cấp III, do vậy, bạn bè gọi tôi là ông Thôn trưởng).

Còn chú Hoa cũng vậy:

         “Thời gian khó nhà đong từng bữa gạo

         Nếp gia phong từng mũi chỉ đường kim”

(Bố –   thơ Võ Văn Hoa)

Mặc dầu vậy, nhưng tuổi thơ của Hoa ít lận đận hơn tôi. Những năm tháng kinh tế khó khăn, khoai sắn độn cơm, rau lang chắm ruốc thay canh cá nhưng chú thím ở nhà vẫn tần tảo chịu thương, chịu khó để nuôi con cái học hành. Ở làng tôi,  gia đình chú Hoa bây giờ vẫn được mọi người công nhận là gia đình “Thật thà – Phúc đức” nhất. Tuổi nhỏ Hoa học trường tiểu học Thi Ông, lên cấp II học trường công lập Hải Lăng, cấp III vào trường trung học Nguyễn Hoàng – Quảng Trị, rồi vào trường Sư phạm Huế. Những năm tháng chiến tranh dân Quảng Trị phải di tản đi nơi khác, việc học hành đôi lúc bị bỏ dỡ, để có tiền tiếp tục việc học Hoa phải đi làm “Cai áo xanh” chương trình làm sạch thành phố (giống như công ty môi trường bây giờ). Tuổi thơ hai anh em ít chơi với nhau, nhưng mến thương nhau, vì ở làng thời ấy ít người đi học. Đặc biệt khi vào Huế tôi vào Sư phạm trước chú Hoa 1 khóa. Khi nghe tin chú Hoa đỗ vào trường Sư phạm tôi rất vui mừng, thời đó có giáo sư Lê Quang Thái người Cổ thành Quảng Trị dạy môn Sư phạm giáo dục, thầy rất thương và quí anh em chúng tôi. Người ta thường bảo “Những người cùng hoàn cảnh thì thương nhau”. Có lẽ như thế mà tôi và chú Hoa hoàn cảnh con nhà nghèo, cùng làng lại sống tha hương nên rất thương nhau. Mặc dầu không giúp nhau được gì nhưng trong lòng lúc nào cũng có nhau. Tôi ra trường trước Hoa, do thi tốt nghiệp đỗ cao nên tôi chọn nhiệm sở ở Huế để tiếp tục học thêm trường Đại học Luật khoa, còn Hoa ra trường thì về Quảng Trị và sau đó tiếp tục học ở trường Đại học Sư phạm Huế, tốt nghiệp Cử nhân khoa Ngữ văn, lúc đó anh em ít được gặp nhau. Năm 1975 đất nước hòa bình thống nhất. Bước đầu việc giáo dục chưa đi vào nề nếp, tôi được Phòng Giáo dục huyện Quảng Điền điều về phụ trách bổ túc văn hóa ở xã Quảng Phú. Đến đầu năm 1977 xếp bút nghiên trở lại quê nhà lao động sản xuất làm người nông dân chân lấm, tay bùn. Cái ngày ấy khi trở về nhà là điều đau buồn nhất của cuộc đời tôi. Nhưng cha mẹ tôi có lẽ cũng đau buồn như tôi. Mẹ tôi cố gượng cười và bảo con hãy về đây với cha mẹ, người ta sống được thì mình sống được, việc gì phải buồn. còn cha tôi thì đêm ấy cứ đi ra đi vào, rồi thở dài nhưng có lẽ sợ tôi buồn nên không nói điều chi. Đến hôm nay tôi vẫn thấm thía và hiểu tình thương của cha mẹ như non ngàn biển cả. Bạn bè lúc đó tan tác. Ở quê nhà chú Hoa đang dạy học ở đâu đó có viết cho tôi lá thư có mấy hàng. Tôi không nhớ rõ nhưng ý là rất thương tiếc cho tôi ! Tôi chỉ nhớ câu cuối cùng Hoa nói “Anh là quân tử thời nay”. Cuộc sống cứ thế mà trôi theo thời gian. Chú Hoa theo nghiệp “Kỹ sư tâm hồn”,  phấn đấu từ một giáo viên đến làm Quản lý trường học , sau đó về công tác ở Phòng Giáo dục và Đào tạo Hải Lăng giữ chức vụ Phó Trưởng phòng  và được Nhà nước phong tặng “Nhà giáo Ưu tú”. Đó là niềm tự hào của một nhà giáo!

Trong cuộc sống Hoa còn  là một nhà thơ được rất nhiều người yêu mến, trong đó, có tôi kể cả thơ của thầy giáo – nhà thơ Võ Văn Luyến (em ruột của Hoa). Nhớ lần đến viếng lễ tang thân mẫu của hai chú, trong bài điếu văn tôi có viết “… con của cụ có người ăn học thành tài đã giúp ích cho đời, cho xã hội, đã đem tâm tình của cha mẹ nuôi dạy trang trải trên những vần thơ. Được mọi người yêu mến, xã hội ngưỡng mộ cái công lao sinh thành dưỡng dục của cụ đối với đàn con …”, “ … chín mươi mốt năm qua những giọt mồ hôi của cụ nhỏ xuống đã ươm mầm để những đóa hồng đang sinh sôi nảy nở…”.

Tôi thích con người Võ Văn Hoa hiền từ giản dị, đó là hình ảnh kế thừa nền nếp của gia đình. Tôi yêu mến thơ của Hoa hồi còn học ở trường Sư phạm Huế. Nói đến thơ của Hoa và Luyến thì đã có rất nhiều người bình giải. Riêng tôi trong trình độ hạn hẹp cũng như ở chỗ anh em nên không nói nhiều. Có điều là từ nhỏ đến giờ tôi thích dọc thơ và hát nhạc trữ tình. Ở trong thơ chú Hoa mộc mạc, dễ hiểu lúc nào cũng nói lên được tình cảm, phong cảnh quê hương, làm cho tôi đam mê con người ấy. Có điều không nói ra nhưng trong Hoa, Luyến lúc nào cũng dành cho tôi tình cảm sâu đậm. Sống một mình ở cái chốn vùng sâu, vùng xa anh em bạn bè ít khi gặp gỡ, những lúc buồn vui trong cuộc sống tôi đều nhớ đến bạn bè. Cảm ơn những người bạn, người anh em đã thấu hiểu hoàn cảnh mà bây giờ vẫn nhớ đến hoặc đã quên tôi. Còn chú Hoa đối với tôi lúc nào cũng là một người em, một người bạn tâm tình !

Tự hào thay cho làng Thi Ông đã sinh ra những con người đem vinh dự về cho quê hương trong đó có nhà giáo Ưu tú- nhà thơ Võ Văn Hoa, nhà giáo- nhà thơ Võ Văn Luyến. Một trong những ký ức tuổi thơ. Tôi viết đôi dòng về anh em, về đôi bạn từ trẻ đến giờ mãi là “Đôi bạn Làng Quê” làng Thi Ông xã Hải Vĩnh.

Viết đêm 15/12 năm Bính Thân 12/01/2017

                                                    Võ Đình Hương

 

Nhập tin nhắn…

 

Top of Form

 

HỒ SƠ VĂN HỌC VÕ VĂN LUYẾN 2017

HỒ SƠ VĂN HỌC

VÕ VĂN LUYẾN

——————

Quá trình hoạt động văn học nghệ thuật

Tác phẩm đầu tiên được đăng trên tạp chí Sông Hương sau khi đoạt giải thưởng Cuộc thi thơ sinh viên , Trường Đại học Sư phạm Huế  năm 1984. Từ đó đến nay,  hơn 500 tác phẩm thơ và văn xuôi đã được đăng trên các báo, tạp chí TW và địa phương. Có 4 tập sách và 01 đĩa CD sản phẩm âm nhạc (30 bài thơ phổ nhạc)  cá nhân được xuất bản và phát hành, chưa kể đến sự góp mặt trong gần 30 tuyển tập thơ văn trong nước và trong tỉnh.

Từ sáng tác, tôi được kết nạp vào Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị năm 1991. Nhờ hoạt động VHNT tích cực, nhiệt tình và có hiệu quả, tôi được bầu vào Ban Chấp hành Phân hội Văn học từ năm 2003. Năm 2008, tiếp tục được tín nhiệm bầu vào BCH Phân hội Văn học, với chức danh Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Phân hội Văn học. Đến năm 2014, được bầu vào BCH Hội VHNT Tỉnh nhiệm kỳ 2014 – 2019; với chức danh Ủy viên Thường vụ, Ủy viên Đảng Đoàn, Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội VHNT tỉnh Quảng Trị.

Tác phẩm và công trình chính

  1. Trầm hương của gió (tập thơ) – NXB Thuận Hoá, 2003
  2. Sự trinh bạch của ngọn nến (tập thơ) – NXB Hội Nhà văn, 2007
  3. Người câu bóng mình (tập thơ) – NXB Hội Nhà văn, 2011
  4. Đối ngọn đèn khuya (nghiên cứu và phê bình), NXB Thuận Hóa, 2014
  5. Sẽ có ngày tôi về (CD thơ phổ nhạc), 2006

 

Góp mặt trong các tập/ tuyển

* Bài thơ viết trên tầng ba trường đại học – 1985

* Thơ trẻ Huế – 1986

* Còn đây thương nhớ – Hội VHNT Quảng Trị, 1993

* Thơ tình bốn phương – NXB Trẻ, 1995

* Lục bát tình – NXB Đồng Nai, 1997

* Một ngàn năm thơ Tứ tuyệt Việt Nam – NXB Văn hoá dân tộc, 1998

* Cơn bão đá – Hội VHNT Quảng Trị, 1998

* Thơ trẻ chon lọc 1994 – 1998, NXB Văn hoá dân tộc, 1998

* Non Mai sông Hãn ( thơ văn Quảng Trị thế kỷ XX) – NXB Văn hoá thông tin, 1999

* Gương mặt thời gian (I) – NXB Thuận Hoá, 2002

* Tình đất Triệu Phong – Sở VHTT Quảng Trị, 2003

* Tấm lòng nhà giáo (III) – NXB Giáo dục, 2003

* Gói mây trong áo – NXB Trẻ, 2003

* Thơ nhà giáo – NXB Văn hoá dân tộc, 2004

* Mạch nguồn Hải Lăng – Sở VHTT Quảng Trị, 2004

* Dạ thưa xứ Huế (Những bài thơ hay Huế thế kỷ XX) – NXB Văn hoá thông tin, 2004

* Tác phẩm chọn lọc – Hội VHNT Quảng Trị, 2005

* Tấm lòng nhà giáo (VI) – NXB Giáo dục, 2006

* Gương mặt thời gian (II) – NXB Thuận Hoá, 2007

* Gạch hồng Thành Cổ – NXB Thuận Hoá, 2007

* 700 năm thơ Huế – NXB Thuận Hoá, 2008

* Cam Lộ khát vọng yêu thương – NXB Thuận Hoá, 2009.

* 87 và tôi – NXB Lao động, 2009; v.v…

* Trầm tích Gio Linh – NXB Đại học Huế, 2012

* 5 năm văn học Quảng Trị (2007 – 2012) – NXB Hội Nhà văn, 2012

*Thơ tuyển 250 số tạp chí Cửa Việt – NXB Hội Nhà văn, 2015

………. và nhiều truyện ngắn, tản văn khác

 

 

 

Giải thưởng, khen thưởng

 

  1.  Giải thưởng của Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam  và Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh Quảng Trị về tập thơ “Sự trinh bạch của ngọn nến” năm 2007;
  2. 2. Giải Ba – Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Chế Lan Viên lần thứ nhất tỉnh Quảng Trị (giai đoạn 1989 – 2015)
  3.  Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh Quảng Trị năm 2011 về tập thơ “Người câu bóng mình”
  4. Giải A sáng tạo VHNT Tỉnh Quảng Trị năm 2014 về tập nghiên cứu và phê bình “Đối ngọn đèn khuya”
  5. Giải B (không có giải A) sáng tạo VHNT Tỉnh năm 2003 về tập thơ “Trầm hương của gió”
  6.     Giải thơ Dự thi tạp chí Cửa Việt (2 giải) các năm 1996 – 1997; 2011 – 2012
  7. Giải Thi thơ sinh viên năm 1984;
  8. Huy chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật” (2016)
  9. Giấy Chứng nhận đã có thành tích xuất sắc viết về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh năm 2010, do Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị- Trưởng ban Chỉ đạo ký theo Quyết định số 13QĐ/BCĐ ngày 27/9/2010.
  10. Giấy Chứng nhận đạt giải Khuyến khích cuộc thi sáng tác và quảng bá các tác phẩm VHNT về đề tài “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, năm 2011, do Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị- Trưởng ban Chỉ đạo ký theo Quyết định số 15 ngày 26/9/2011
  11. Giấy Khen tặng Cộng tác viên tạp chí Cửa Việt, đã có nhiều thành tích xuất sắc đóng góp xây dựng tạp chí trong 20 năm, do Chủ tịch Hội VHNT tỉnh Quảng Trị ký ngày 05/01/ 2012.
  12. Giải báo Quảng Trị về đề tài “Người tốt, việc tốt” năm 1992, và

nhiều khen tặng khác về VHNT.

 

 

 

 

aluyen

Thơ Võ Văn Hoa & Võ Văn Luyến …trên Báo QUẢNG TRỊ số tết Đinh Dậu 2017 .

TIN VUI VĂN NGHỆ MỚI NHẬN :

Chân thành cảm ơn BBT và trân trọng giới thiệu cùng bạn bè !
Võ Văn Hoa
BỨC TRANH GÀ

Lặn sâu ở vùng đất cuộc đời
Thụ cảm bài ca lạc quan “ Mười cái trứng”
Phác thảo trận đồ thi hứng
Bức tranh gà làng tôi !
*
Mùa xuân đã về rồi
Cơn mưa đầu dư ảnh
Chiêm chiếp đàn gà đồi
Hương thơm vườn sải cánh
*
Đêm như chừng hong lạnh
Đêm như chừng hoang mây
Gà nhà ai gáy sáng
Báo thức xuân đang đầy !
*
Có con gà mái mẹ
Bên tôi suốt đời này
“ Tổ ấm” xây xây mãi !
Tranh xuân rạng ánh ngày …
VVH
………….
Võ Văn Luyến.
CHIM , ĐẤT VÀ MÙA XUÂN

Con chim vẫn đậu đất lành
Thời gian hoá bướm trời xanh bay vào
Nụ cười hai nửa nghiêng chao
Lửa lòng một ngọn tâm bào mênh mang

Nghe mùa nhắc gió tây nam
Nghe tôi nóng chảy đá vàng thiên thu
Âm âm đáy lũng sương mù
Thềm hoang biệt dấu ưu tư ai cầm

Chạm vào lạnh toát bàn chân
Bay lên vọng nhớ âm thầm đất đai
Dễ còn chưa mỏi dặm dài
Sải tìm bóng núi lại hoài hình sông

Đời còn có chỗ bao dung
Tôi về tôi tháng năm cùng sang xuân.

VÕ VĂN LUYẾN

* Ngân Hoa ( PV báo Quảng Trị ) TRANG ĐỜI – TRANG THƠ CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG

* 15 NĂM TRƯỚC trên Báo Quảng Trị cuối tuần số 1515 ra ngày 23/11/2002
* Ngân Hoa ( PV báo Quảng Trị )
TRANG ĐỜI – TRANG THƠ CÁC NHÀ GIÁO HẢI LĂNG
Có lẽ không đâu như ở Hải Lăng một vùng quê úng trũng, đồng đất chưa mưa đã ngập, chưa nắng đã khô lại xuất hiện nhiều nhà giáo – nhà thơ đến vậy. Họ là những cán bộ quản lý, giáo viên đứng lớp không chỉ chăm lo cho sự nghiệp “trăm năm trồng người” mà còn là những con tằm nhả tơ, dệt niềm vui cho đời bằng những bài thơ nhẹ nhàng, ấm áp.
Hơn 10 năm qua, phong trào sáng tác văn học ở ngành Giáo dục Hải Lăng đã nở rộ thông qua các cuộc thi thơ, văn, bình chọn những tác giả, tác phẩm trong nhà trường, mảnh đất mà họ gieo ươm để cho ra đời những tác phẩm hay được đánh dấu suốt 12 năm qua trên các tập san HOA ĐẦU MÙA.
…Hai anh em ruột cùng một lò đào tạo ĐHSP mà ra, nhà giáo – nhà thơ anh là Võ Văn Hoa, đương chức Phó Trưởng phòng GD &ĐT Hải Lăng, đã có thơ đăng suốt 27 năm qua trên các báo, tạp chí Trung ương và địa phương, đã từng đoạt giải 3 cuộc thi thơ trên tạp chí Cửa Việt năm 1996, giải thưởng phóng sự đăng trên báo Quảng Trị “Những bác sĩ của ruộng đồng” năm 1998. Đã có lần anh Hoa bộc bạch:
Em thì đi ngang mà thơ thì đi dọc
Em và thơ ngang dọc suốt đời tôi…
Gần đây nhất trên báo Quảng Trị cuối tuần ra ngày 2/11/2002, thơ anh viết:
Em nói rằng: trái tim đã đến tận cùng
Vẫn có những điều không thể nói
…Cơn gió nào thoáng qua miền cổ tích
Em nói rằng: phía ấy có trong nhau…
Nhà giáo, nhà thơ em – Võ Văn Luyến, đã trải qua những tháng năm trong đời quân ngũ, rồi sinh viên trường ĐHSP, ra trường về công tác tại trường CĐSP Quảng Trị. Võ Văn Luyến luôn đau đáu, tâm huyết gắn bó với văn chương, thơ đã quyện chặt vào máu thịt của anh. Cũng như Võ Văn Hoa, thơ của Võ Văn Luyến đã đăng tải ở nhiều tờ báo, tạp chí và còn giành được nhiều giải thưởng. Sống trong một gia đình nề nếp gia phong, được người cha kính yêu truyền lại dòng máu thơ ca nên anh đã:
Giữa muôn làn điệu dân ca
Trong cha một Huế thiết tha mặn nồng
Để rồi:
…Thơ con khơi tự nguồn cha theo về”
(Tuổi già của cha giữa câu ca Huế)
Với nghề nghiệp anh đã :
…Thời gian cho con đâu được nhiều hơn
Ngày đi dạy bên trang giáo án
Chong thức với nghĩa đời quá lớn
…Những trang đời – trang thơ của các nhà giáo Hải Lăng vẫn còn mãi chảy, đó là chắt lọc cuộc sống hiện tại và là niềm tin yêu của tương lai. Tin rằng trang giáo án – trang đời – trang thơ sẽ quyện chặt, chảy mãi và thăng hoa cùng họ trên hành trình giáo dục vẻ vang của nhà giáo- nhà thơ ấy.
Ngân Hoa
(PV báo Quảng Trị)

(Báo Quảng Trị cuối tuần
số 1515 ra ngày 23/11/2002)

Trong hình ảnh có thể có: thực vật, ngoài trời và thiên nhiên

VÕ VĂN LUYẾN với bài PHÁT BIỂU NHẬN GIẢI THƯỞNG VHNT CHẾ LAN VIÊN TỈNH QUẢNG TRỊ LẦN THỨ NHẤT (TỪ 1989 – 2015)

ĐẠI DIỆN clv

Kính thưa Quý vị!
Trước hết, cho phép tôi gửi lời chào trân trọng, lời cám ơn chân thành, lời chúc sức khỏe dồi dào đến các vị lãnh đạo Tỉnh, đại diện lãnh đạo các cơ quan ban ngành trong tỉnh.
Những người làm văn nghệ được vinh danh và nhận giải thưởng hôm nay có đủ các thế hệ. Thiết nghĩ, mỗi người luôn sẵn mang tiếng nói của riêng mình. Hơn nữa, trước mắt tôi còn có những bậc đàn anh, đàn chị với sự cống hiến, đóng góp vào nền văn nghệ tỉnh nhà, nước nhà thật đáng nể trọng. Vì vậy, tôi xin được nói đôi điều ngắn gọn với tư cách cá nhân, nhưng vẫn không quên hướng đến tư cách rộng mở, nói như nhà thơ cộng sản Pháp Paul Eluard rằng là, đi “từ chân trời của một người đến chân trời của tất cả”.
Lễ trao Giải thưởng VHNT CLV lần thứ 1 lần này là niềm vui, niềm hạnh phúc, niềm mong đợi của VNS và của công chúng yêu nghệ thuật tỉnh Quảng Trị. Sự kiện quan trọng này không chỉ ghi nhận, động viên mà còn kích hoạt mạnh mẽ nội năng sáng tạo, và sự phấn khích của những người hoạt động nghề nghiệp chuyên và không chuyên trên lĩnh vực VHNT.

Kính thưa Quý vị!
Nghệ thuật, một khi đáp ứng được sứ mệnh cao cả, trước tiên, “nó thể hiện rõ khát vọng của nghệ sĩ về chân lý đời sống, về chân thiện mỹ bằng cảm hứng mãnh liệt, cảm quan tiến bộ trên cơ sở hướng tới cái cần có nên có, chứ không chỉ là vốn có”. Tất cả được lý giải, đánh giá, biểu biện theo khuynh hướng hướng thượng, hướng thiện, hướng mỹ cùng với việc khẳng định những giá trị nhân bản, nhân văn mang ý nghĩa trường tồn.
Thời đại kỹ trị đã đưa con người vào thế giới văn minh, và như một tất yếu, cũng đẩy con người hiện đại đến những nguy cơ khác, không lường hết được. May mắn thay, nói như Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, cứu nguy bất cứ lúc nào nhờ vào “ tác dụng to lớn, sâu rộng, bền bỉ” không ai khác, không gì khác, đó chính là VHNT.
VHNT làm thay đổi một điều gì đó ở con người, ngay từ khi còn đi học. Nguyễn Đức Tùng, một bác sĩ quê Quảng Trị sống ở Canada, trong một tiểu luận theo đơn đặt hàng viết sách giáo khoa ở trong nước, rất chí lý khi cho rằng, “một người loại trừ văn chương [VHNT nói chung, tôi nhấn mạnh] ra khỏi đời sống,…chỉ cốt ra đời hành nghề có lương cao, là tự hạ mình xuống, làm mình nhỏ lại, thành một người chỉ sống vì các nhu cầu tối thiểu như ăn mặc ở. Một cá nhân như thế có thể thành công về mưu sinh, địa vị nhưng sẽ trưởng thành không trọn vẹn”.

Kính thưa Quý vị!
Sáng tạo, ở bất cứ lĩnh vực nào, là cuộc hành trình đầy nhọc nhằn, khó khăn, và không ít thử thách. Ở lĩnh vực VHNT, sự lao tâm khổ tứ của người nghệ sĩ có cái gì giống như cách tự nguyện đóng thập giá để được mang vác “thú đau thương” đời mình. Ai cũng bảo dân văn nghệ vui vẻ, thoải mái. Nhưng nhiều khi lại quên, đó là sự hồn nhiên trong trầm tư, sự hạnh phúc trong đắng đót, không chừa một ai trên trái đất này, từ xưa đến nay. Cái cách bày biện món ăn tinh thần của người nghệ sĩ cũng thật lạ, thu hết nắng mưa cuộc đời dội xuống nhưng tâm hồn luôn “gạn đục khơi trong” làm đẹp cho đời. Nhà thơ tài hoa Thi Hoàng từng dùng thi ảnh rất đẹp và trầm sâu ý tứ để nói về những người “trồng cây nghệ thuật” thật lộng lẫy nhưng lại giấu đi ở bên trong vô vàn cái quặn thắt:
Cây cứ biếc như vặn mình mà biếc
Trời thì xanh như rút ruột mà xanh
Điều nữa, cuối cùng, xin được thưa rằng, giải thưởng là kết quả nhưng không là kết thúc của sự sáng tạo, sự đóng góp của mỗi văn nghệ sĩ “cho hôm nay và cho cả ngày mai”. Tác phẩm hay nhất luôn nằm trong sự ấp ủ, trong khát vọng, ở phía trước. Vì thế, mỗi chúng tôi luôn đặt ra trách nhiệm và bổn phận đối với quê hương đất nước, với dân tộc, nhân dân của chúng ta ngày một cao hơn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn các đ/c lãnh đạo Tỉnh ủy,HĐND, UBND, MTTQVN tỉnh ;đại diện lãnh đạo các sở, ban ngành đã đến động viên và chia sẻ!
Lần nữa, xin trân trọng cám ơn!

VoVanLuyen

thơ Thượng tọa Thích Tín Thuận tặng Võ Văn Hoa

ttt
ĐỌC “PHÙ SA TÌNH”
Vun biền đắp bãi giọt phù sa
Gửi gắm dòng sâu nghĩa đậm đà
Mặc lở hay bồi cơn lũ cuốn
Ân tình vẫn thắm trải đồng xa./.
10.01.2016
TTT

THƠ CHÂN DUNG ANH EM NHÀ HỌ VÕ VĂN : Võ Văn Luyến & Võ Văn Hoa CỦA NHÀ THƠ LÊ ĐÀNHoa

hl
1. VÕ VĂN LUYẾN
Võ Văn tri kiến
Luyến nốt nhạc thương
Huynh đệ văn chương
Lưu câu hò hẹn
02-01-2015

2. VÕ VĂN HOA
Giao thừa câu đối đỏ
Hay chữ, tiếng đồn xa
Thi nhân nhà họ Võ
Văn bút nở ngàn Hoa

03-01-2015
LÊ ĐÀN

thơ Võ Văn Hoa VỚI NGÀY NAY HOÀNG THỊ.

hoatuyet1
Về thăm nhà mẹ ngày xưa
Em còn có nhớ ngày chưa biết buồn ?
Giờ đây chớp bể mưa nguồn
Bờ vai anh có gió luồn qua không ?
Võ Văn Hoa

thơ Lê Đức Diệu. GÁC TRI ÂM

a11
Phía tây Tri Âm các
Trăng về neo hồn thơ
Rượu tràn trên thư pháp
Cho hồn ai ngẩn ngơ!
***
Nghe ” tri âm độc thoại”
Nhận ra khuôn mặt đời
Nghe tiếng ai xa gọi
Cho hồn mình chơi vơi.
***
Gió xuân qua trong chén
Nồng nàn giọt rượu thơm
Tình xuân thêm ấm cúng
Xua lạnh giờ cuối đông!
***
Ngồi chung trong manh chiếu
Thơ, nhạc, rượu nghiêng say
” Anh ngoại” môi chót đỏ
Ôn chuyện không hết ngày!
***
Văn chương là cuộc đời
Gần gũi với muôn nơi.
Tri âm lần gặp ấy,
Lòng càng thêm sáng ngời!
LÊ ĐỨC DIỆU
thơ Lê Đức Diệu.
GÁC TRI ÂM
Phía tây Tri Âm các
Trăng về neo hồn thơ
Rượu tràn trên thư pháp
Cho hồn ai ngẩn ngơ!
***
Nghe ” tri âm độc thoại”
Nhận ra khuôn mặt đời
Nghe tiếng ai xa gọi
Cho hồn mình chơi vơi.
***
Gió xuân qua trong chén
Nồng nàn giọt rượu thơm
Tình xuân thêm ấm cúng
Xua lạnh giờ cuối đông!
***
Ngồi chung trong manh chiếu
Thơ, nhạc, rượu nghiêng say
” Anh ngoại” môi chót đỏ
Ôn chuyện không hết ngày!
***
Văn chương là cuộc đời
Gần gũi với muôn nơi.
Tri âm lần gặp ấy,
Lòng càng thêm sáng ngời!
LÊ ĐỨC DIỆU
thơ Lê Đức Diệu.
GÁC TRI ÂM
Phía tây Tri Âm các
Trăng về neo hồn thơ
Rượu tràn trên thư pháp
Cho hồn ai ngẩn ngơ!
***
Nghe ” tri âm độc thoại”
Nhận ra khuôn mặt đời
Nghe tiếng ai xa gọi
Cho hồn mình chơi vơi.
***
Gió xuân qua trong chén
Nồng nàn giọt rượu thơm
Tình xuân thêm ấm cúng
Xua lạnh giờ cuối đông!
***
Ngồi chung trong manh chiếu
Thơ, nhạc, rượu nghiêng say
” Anh ngoại” môi chót đỏ
Ôn chuyện không hết ngày!
***
Văn chương là cuộc đời
Gần gũi với muôn nơi.
Tri âm lần gặp ấy,
Lòng càng thêm sáng ngời!
LÊ ĐỨC DIỆU

Võ Văn Hoa

a12
Một câu thơ trong bài thơ VĨ THANH THÀNH CỔ của tôi ( đoạt giải 3 cuộc thi THƠ trên tạp chí CỬA VIỆT năm 1996-1997) là bức ảnh này đây ! Ảnh được chụp năm 1973 tại Thành Cổ bùng nhùng dây kẽm gai và bom đạn, cậu Tú Võ Văn Hoa đang học ở Huế trở về thăm !

Previous Older Entries

Cháu ngoại