Bạn cùng lớp ĐINH QUANG TUYẾT sau 42 năm gặp lại tại Sài Gòn 01.5.2015

Trong hình ảnh có thể có: Võ Văn Hoa và Đinh Quang Tuyết, mọi người đang đứng và ngoài trời

Advertisements

Hình ảnh

TRI ÂM NGUYỄN THANH BÁ TỪ BÀ RỊA VŨNG TÀU TẶNG Võ Văn Hoa

CHIỀU THU TIỄN BẠN
Gió kéo mây về bàng bạc trôi
Ru ngàn cây thả lá vàng rơi
Nước hồ gờn gợn lùa cơn sóng
Sân nắng hanh hao tiễn bước người
Mắt mỏi trông xa mờ bóng núi
Chiều buồn tới vội tím lưng đồi
Chia tay bịn rịn lòng khôn dứt
Nỗi nhớ theo ai tận cuối trời .

NTB

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, bao gồm Thanh Bá Nguyễn, mọi người đang đứng, cây, thực vật và ngoài trời

Tác phẩm hai anh em : Võ Văn Hoa & Võ Văn Luyến

4FB994AE-ADAC-4F4C-940C-AE668C053117

Hình ảnh

* thơ Võ Văn Hoa trên Tạp chí Nhật Lệ và Kinh Bắc!

thơ Võ Văn Hoa

Í A XUÂN

Cách nhau ba cây số.

Chậm gặp ba mươi năm!

Cách nhau ngàn cây số

Ta vẫn còn biệt tăm!

Í a Xuân

Em xa hóa như gần

Anh kỷ lục đi chậm

Giờ vẫn còn phân vân

Í a Xuân

Mùa xuân về gõ cửa

Em có về bên sông?

Ráng chiều còn hay tắt?

Í a Xuân

Sao em mãi ngại ngần

đường về quê xa vắng

Trong ta còn quãng lặng…

Í a Xuân!

Í a Xuân!

01.03.2007 VVH

Bộ sưu tập

Về XUÂN DƯƠNG GẶP LẠI ĐỒNG NGHIỆP SAU 30 NĂM !

Bộ sưu tập

Với nhà văn Nhất Lâm, bạn vănNguyễn Văn Quang ghé thăm Tri Âm Các và tặng tác phẩm NGƯỜI TÙ THÔNG MINH !

Bộ sưu tập

2 bài thơ của Võ Văn Hoa trên trang mạng VĂN CHƯƠNG VIỆT( Vanchuongviet.Org): – CHỚP BỂ – HÌNH THỨC MỚI

Bộ sưu tập

Tin vui văn nghệ mới nhận chiều nay 18.10.2017 : CỬA RỪNG – thơ Võ Văn Hoa được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Gia Lai số 227 tháng 10/2017. Cảm ơn BBT và trân trọng giới thiệu cùng bạn bè !

Bộ sưu tập

Tình mẹ trong thơ Võ. Văn Hoa – Hà Thủy

TÌNH MẸ TRONG THƠ VÕ VĂN HOA – Hà Thủy

Nói đến nhà thơ Võ Văn Hoa, người yêu thơ xa gần ở Quảng Trị chắc ai cũng biết. Nhiều người biết đến anh không chỉ anh có nhiều thơ đăng, có nhiều giải thưởng mà trên hết là một tấm lòng. Nếu ai đã một lần gặp anh hoặc một lần đọc thơ anh thôi đều yêu mến anh với một cảm nhận chung: Nhà thơ Võ Văn Hoa thật hồn hậu, vui vẻ, dễ gần, là người giàu tình cảm. Thơ anh dạt dào cảm xúc yêu thương: nặng tình với quê hương, gia đình, hết lòng với bè bạn, thân thiện với tất cả mọi người… Và có lẽ tình yêu được kết tinh đằm sâu và thiêng liêng nhất trong thơ anh chính là mẹ.

Trong ba tập thơ riêng của anh đã đăng và đều có giải thưởng của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Trị, tập nào anh cũng dành cho mẹ những tình cảm sâu nặng, thiết tha. Mẹ trong anh luôn đẹp và hoàn hảo một cách đáng tự hào:

Mẹ ngày xưa chắc đẹp lắm

Con gái làng Văn đi lấy chồng

Có kẻ phong trần ngơ ngẩn tiếc

Từ đây vắng bóng một bông hồng.

( Con gái làng Văn )

Lời thơ thật giản dị gần gũi như lời nói đời thường nhưng chứa đựng bao yêu thương, trìu mến. Nhà thơ yêu mẹ, hảnh diện về mẹ không che dấu “ Mẹ ngày xưa chắc đẹp lắm”. Với anh, mẹ – con gái làng Văn – không chỉ đẹp về hình thức làm bao “kẻ phong trần ngơ ngẩn” mà còn đảm đang, đoan trang trong tính cách làm đẹp lòng bao người:

Con gái làng Văn bạn biết không?

Đoan trang tính cách má môi hồng…

Ruộng lúa biền ngô… xanh tiếng hát

Ấm lòng bè bạn những chiều đông!

( Con gái làng Văn )

Những câu thơ thất ngôn thật đẹp, thật nhịp nhàng rất tương xứng với vẻ đẹp đoan trang của mẹ.

Hình ảnh mẹ luôn thường trực trong anh một cách sâu đậm. Về làng Văn quê ngoại, anh nhớ mẹ. Hồi ức những ngày cơ hàn, anh nhớ mẹ. Anh nhớ lời nhắc nhở của mẹ:

Ăn gạo mòn răng mà chẳng biết

Hôm qua mạ nói: Gạo ba trăng

Mới hay gạo cá thơm tình mạ

Trời đất! Con quên cả chị Hằng.

( Gạo ba trăng )

Bài thơ ngắn nhưng ý nghĩa thật sâu xa. Mẹ rất sâu sắc và tinh tế khi nhẹ nhàng nhắc con “Gạo ba trăng”, hạt gạo sâu nặng ân tình, hạt gạo của người

nông dân một nắng hai sương…Để rồi người con tự trách mình sao vô tâm quá vậy: “Trời đất! Con quên cả chị Hằng”.

Với mẹ, dù cho con đã lớn, đã trưởng thành, đã đi khắp bốn phương trời nhưng con vẫn là con của mẹ. Sự hiếu kính, lòng biết ơn sinh thành của anh với mẹ thật xúc động:

57 năm trước mẹ sinh con

Đêm nay con về với mẹ

Lúa ngậm sữa, sương rơi thật khẽ

Bên làng Thi chan chứa đời người

( Sinh nhật )

Ngẫm lại,có lẽ cũng hiếm người làm được một việc rất đỗi đời thường mà vô cùng thiêng liêng như thế. Người ta có thể dễ dàng mở tiệc, nổ sâm panh, chúc tụng mừng ngày sinh nhật nhưng không phải ai cũng hiểu được nỗi lòng của mẹ như nhà thơ Võ Văn Hoa, để rồi trong ngày sinh nhật của mình: “Đêm nay con về với mẹ”. Người con đã ngoại ngũ tuần bên mẹ: “ Chín mươi tuổi da mồi tóc bạc”, thật cảm động vô cùng. Lòng mẹ còn mong gì hơn thế! Bài thơ Sinh nhật của mình nhưng chỉ thấy tấm lòng hiếu kính của người con với cha mẹ. Anh mong mẹ sức khoẻ, , sống lâu với cháu con, và anh cũng rất hiểu lòng mẹ, để mẹ an lòng, anh báo với mẹ : “Việc hiếu cha, chúng con đã nghĩ”.. Anh cũng không ngờ rằng đó là lần sinh nhật cuối cùng được ở bên mẹ. Năm sau, mẹ đã mãi mãi đi xa.

Bài thơ “ Mỗi lần qua chợ Diên Sanh” là một kỉ niệm đau buồn của anh khi nhớ về mẹ:

Mỗi lần qua chợ Diên Sanh

Dừng chân

Mua quà cho mẹ

Nước

mắt

tràn!

Người bán hàng:

-Mẹ thầy có khoẻ không?

!

!

!

Bài thơ ngắn, câu chữ không qui luật chứa đầy tâm trạng và cảm xúc, như tiếng thổn thức, như tiếng nấc nghẹn ngào, như nỗi nhớ tiếc khôn nguôi …Khó có thể diễn đạt được nỗi đau trong lòng con khi không còn có mẹ. Kết thúc bài thơ bằng ba dấu chấm than trong ba dòng, là những giọt nước mắt tuôn rơi khi người bán hàng vô tình chạm vào nỗi buồn, nỗi đau cố nén của nhà thơ.

Tình yêu thương, lòng hiếu kính sâu sắc với cha mẹ của nhà thơ Võ Văn Hoa đã chạm đến trái tim người đọc. Thật hạnh phúc cho ai khi bên ta vẫn còn có mẹ để được cài lên ngực bông hồng đỏ trong ngày lễ Vu lan. Bông hồng trắng dành cho những ai không còn mẹ nhưng hình ảnh mẹ luôn mãi mãi trong ta. Chúng con cầu mong mẹ luôn an lạc nơi cõi vĩnh hằng!

HÀ THỦYD45C4461-3BC1-43A0-87AB-73F1C542B26C

CHA TÔI – Võ Văn Hoa

CHA TÔI
Ghi chép :Võ Văn Hoa

Cha tôi là người hiếu kính với tổ tiên, ông bà, hết lòng với anh em .Nội mất sớm, ba o (cô) đi lấy chồng, bốn anh em trai còn lại nương thân vào nhau . Là con trai trưởng, “quyền huynh thế phụ”, cha lo lắng cho các em ăn học và tác thành gia đình. Về đời riêng, ngoài ba mươi tuổi mới sánh duyên với người con gái làng Văn ( cái tuổi ấy so với ngày xưa đã là quá muộn) và sanh hạ anh em chúng tôi.
Cái làng Thi Ông, ven sông Vĩnh Định xanh biếc hàng tre, dưới con mắt trẻ thơ chúng tôi quả là đẹp, trừ phi mùa nam nắng, tre pheo vàng cháy. Ruộng đồng chỉ độc canh cây lúa và chỉ một vụ nên đời sống bà con rất khó khăn. Vả lại, chiến tranh rồi tản cư liên miên nên thiếu thốn trăm bề. Ngược lại, làng có truyền thống hiếu học. Nhiều bà con dân làng ” hi sinh đời bố , củng cố đời con”, cho con ăn học để thoát nghèo.
Tôi sống trong nôi làng đó. Cha mẹ tôi chạy bữa hôm, mất bữa mai nhưng xác định việc học của con cái là trên hết. Mấy anh em tôi sau khi học xong bậc tiểu học trường làng lại tiếp tục lên học trường Huyện. 4 năm học trung học đệ nhất cấp, đường từ nhà đến trường hơn 10km đi bộ băng qua rú rậm Cu Hoan, sáng nào cũng vậy cha mẹ tôi dậy sớm để nấu cơm đùm bới vào mo cau hoặc lá chuối hơ lửa cùng với muối rang cho con đi học. Đều đặn như vậy, riêng tôi có sự cố vào cuối học kỳ 1 năm đệ thất bị sưng cổ nghỉ học cả tuần.
Trong nhà chạy chữa thuốc thang kể cả coi bói đủ thứ. Nghe đâu tôi bị ma thắt cổ ở một ngôi miếu thiêng trên rú mỗi ngày tôi qua quở trách. Thực tế nơi này trước đó khá lâu đã có người tìm cách quyên sinh bằng vòng dây oan nghiệt này.
Từ đó, tôi bị ám ảnh mãi nhất là những sớm tờ mờ hơi sương, vừa đi vừa run lập cập, không dám bắt mặt nhìn vô ngôi miếu rêu phong này.

Cha tôi là người” cứu khổ, cứu nạn” cho tôi gần 4 năm trời, sáng nào cũng vậy đưa tôi qua khỏi truông Cu Hoan mới trở về nhà. Vừa đi vừa trò chuyện, cha tôi khuyên nhũ tôi : Con phải nuôi chí nam nhi, gắng học nên người ! Riêng ơn này làm sao tôi trả hết !

Và tôi quyết tâm báo đáp. Học xong trường Huyện, tôi lên học trường Tỉnh ( Trường Trung học Đệ nhị cấp Nguyễn Hoàng). Nhà nghèo, ngày hè, tôi lao vào cuộc sống mưu sinh góp phần đỡ đần cha mẹ: Làm mì ổ ở lò mì Thiên Hương, bán sách ở nhà sách Lương Giang – đường Trần Hưng Đạo, thị xã Quảng Trị ngày ấy. Vào năm học thì làm gia sư.
” Mùa hè đỏ lửa” 1972, tôi lấy xong mảnh bằng Tú tài và hạnh phúc đã mĩm cười. Cả xã Hải Vĩnh rộng lớn, khoa thi ấy có 4 người đỗ: làng Thuận Nhơn ( Nguyễn Đức Tiềng), làng Lam Thuỷ (Nguyễn Ngọc Luật), làng Lương Chánh ( Nguyễn Đới), làng Thi Ông có tôi.

Gia đình, họ tộc hết lời khen ngợi và động viên. Ở miền Nam thời điểm ấy, phân cực rõ rệt: ” Anh rớt Tú tài anh đi Trung sĩ…”, còn đỗ thì nếu vào quân đội thì Sĩ quan oai ra phết . Nhiều nhà giàu có, danh vọng rất muốn gã con gái cho những cậu Tú này.

Bạn bè tôi, mỗi người đều có một sự lựa chọn. Tôi thích làm thầy giáo từ nhỏ và thi vào sư phạm Huế. Kết quả toại nguyện. Ra trường xuống biển, lên đồng bằng, tiếp tục lên huyện bồi dưỡng học sinh giỏi Văn ( trường chuyên huyện Triệu Hải), rồi làm Quản lý trường học được trò yêu, bạn mến, phụ huynh tin tưởng. Năm 1990, được điều động lên Phòng Giáo dục và đào tạo Hải Lăng, làm chuyên viên rồi Tổ trưởng, Thanh tra giáo dục và năm 1997 ra Hà Nội học trường Cán bộ Quản lý Giáo dục Trung ương ( nay là Học viện Quản lý Giáo dục) để về nhận nhiệm vụ mới.

Cũng năm này, từ Thủ đô, tôi viết bài thơ gan ruột của mình về cha nhân dịp người bước sang tuổi thọ bát tuần:

BỐ

Bố – người thầy đầu tiên của con

Truyền dạy cho con những : Minh tâm Bửu giám …

Lên chút nữa , qua truông dài rú rậm

Bố dắt con mỗi sớm đến trường.

Thời gian khó, nhà đong từng bữa gạo

Nếp gia phong từ mũi chỉ đường kim

Bố răn dạy học văn, học lễ

Để mai sau con mãi kiếm tìm

Con đã lớn : Lập ngôn, lập chí

Bố vui sao những đứa con mình

Ấm áp đời con, đời bố hy sinh

Con thấy bố – người “trồng người” hạnh phúc
Giờ sang tuổi tám mươi tai lãng, mắt mờ

Tâm vẫn sáng, nếp nhà xưa vẫn giữ

Ngày đi xa, con càng thêm hiểu bố

Bố mãi là người thầy trong trái tim con .

Hà Nội, 1/10/1997

Năm 1999, cha tôi mất . Khi viết những dòng này, tôi không cầm được nước mắt! Bao nhiêu hồi ức ùa về

Khi cuộc sống của con cháu bắt đầu khấm khá thì cha không còn nữa!
Ngày còn sống, cha vẫn hằng tâm: “Sanh như hà, tử như thị” ( sống như thế nào, thác như thế ấy) và đi đâu, lên thăm con cũng đau đáu trở về cội nguồn.

Anh em chúng tôi canh cánh nỗi lòng là tìm ” cát địa” để đưa cha về làng vì khi mất trong trận đại hồng thuỷ nên tạm thời mai táng ở trên đất Diên Sanh.

Thời gian chuẩn bị khá công phu. Nơi thờ tự cha trên đất Tổ phụ ấm cúng, nghiêm cẩn. Lăng mộ song thân đã được khởi động và trên đường hoàn thành vài ngày tới .Kiến trúc của lăng theo truyền thống có cách tân. Đá chẻ tự nhiên được chuyên chở ở miền Tây Gio Linh về.Nhà thơ Võ Văn Luyến- con trai út- đặt tên lăng là HIẾU LĂNG được khắc bằng chữ Hán dưới cổ lầu, nhà bia được khắc cũng bằng chữ Hán hai chữ MINH ĐƯỜNG và trước bình phong là bài thơ TẠ ƠN SINH THÀNH khắc trên đá granit đen font chữ thư pháp:

Bọc trong hạt cát trắng trinh
Từ tâm soi tỏ dáng hình quê hương
Nắng mưa dầu dãi vô thường
Cao sâu chín chữ tạ ơn sinh thành !
Bia đá Thanh Hoá cao 1,2m và văn bia được thực hiện chỉnh chu từng câu chữ.Các câu đối ngoài và trong lăng trình bày đẹp với các nội dung:

NGOÀI LĂNG:

THỦY QUYẾN VĨNH GIANG HOÀI CỰU NIỆM
水 卷 永 江 懷 舊 念

VÂN PHI MAI LĨNH TƯỞNG TỪ THÂN

雲 飛 梅 嶺 想 慈 親

TRONG LĂNG:

NGHIÊM HUẤN TÀI BỒI NHÂN NGHĨA THỤ

嚴 訓 栽 培 仁 義 樹

HUYÊN TỪ THIẾT DƯỠNG CHÍ TÂM GIA

萱 慈 設 養 志 心 家

Ngày 21/7/2010 ( 10 tháng 6 Âm lịch) này- ngày lành tháng tốt, anh em chúng tôi sẽ cất bốc kim cốt cha đưa từ Thị trấn Hải Lăng về Hiếu Lăng tại quê nhà Thi Ông an táng. Tự đáy lòng mình, tôi tin chắc cha tôi sẽ an lòng nơi suối vàng, về gần với Tổ tiên, ông bà và bên con cháu !

VÕ VĂN HOA

http://vovanhoaqt.vnweblogs.com/post/10775/243117D1BB4489-C7C6-42A6-9CF8-2778F30859C4

Previous Older Entries

Cháu ngoại