GIỚI THIỆU BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH THỜI VUA DUY TÂN và TIỂU TRUYỆN của Tiến sĩ Đình nguyên VƯƠNG HỮU PHU

*Tôi vừa nhận được BÀI VĂN SÁCH THI ĐÌNH và TIỂU TRUYỆN của Tiến sĩ Đình nguyên VƯƠNG HỮU PHU  do nhà nghiên cứu, nhà thơ Vương Thừa Ân ( TP Đông Hà ) tặng tôi. Tôi rất vui vì nho sĩ Vương Hữu Phu là ông nội của các anh Vương Thừa Ân và anh Vương Thừa Bình (ĐT: 0913 806667) ,Thư Ký Tòa Soạn Tạp Chí Nhà Đẹp  -Hội Kiến Trúc Sư Việt Nam-(Lầu 4 – 202A Lý Chính Thắng,Phường 9, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh). 
   Là người trong ngành giáo dục, tôi rất quan tâm đến việc khoa cử ngày xưa. Khi thi Đình, vua Duy Tân đã ra một một đề thi mà tôi cho rằng rất thời sự. Ai đó bảo rằng thi cử thời phong kiến là tầm chương trích cú , là điển tích, là học vẹt, là lối mòn vân vân và vân vân…là không hẳn thế. Dẫn chứng:
 

“Khoa thi này, vị vua trẻ tuổi, yêu nước là Duy Tân chủ trì, nhưng bên cạnh đó đã có sự hiện diện của người Pháp vì lúc này đất nước ta đã bị người Pháp đô hộ. Đề thi vua ra gồm 229 chữ nêu câu hỏi là:
       “Làm sao cho dân giàu, làm sao để nâng cao dân trí. Nhận xét những cái làm được và những cái chưa làm được, cùng những người bề tôi giỏi và những người bề tôi kém trong lịch sử Trung Quốc và lịch sử Việt Nam đối với hai vấn đề đó. Thành tựu của các nước Phương Tây do đâu mà có? Có thể tiếp thu họ những cái gì? Nhiệm vụ quan trọng lúc này là gì và làm sao thực hiện được các nhiệm vụ đó?”

Bài văn của vị tiến sĩ tân khoa  Vương Hữu Phu chúng ta có 3.475 chữ.”
      Tôi xin đăng trích bài giới thiệu của Vương Lộc và Cảm đề cuối sách của Vương Thừa Bình này nhé và bạn nào cần có nguyên văn bài Văn sách cũng như tiểu truyện cụ Vương Hữu Phu mail về nhà báo Vương Thừa Bình theo địa chỉ nói trên. Anh Bình cũng đã gửi cho tôi toàn văn các tác phẩm này!

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Cụ Vương Hữu Phu, húy Bảy, tự Vi Tử, (tên cũ Vương Đình Thụy), sinh ngày mồng 5 tháng 12 năm Canh Thìn (1880) tại thôn Long Vân, xã Vân Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An trong một gia đình có nhiều người đỗ đạt. Thân phụ là cụ Vương Danh Thân, đỗ cử nhân khoa Giáp Tí (1864) làm quan đến chức Giám sát ngự sử, anh ruột là Vương Đình Trân (sau đổi là Vương Đình Trác) đỗ phó bảng khoa ất Mùi (1895) làm quan đến chức tri phủ.

Vốn thông minh, lại được giùi mài kinh sử tại trường của cụ đầu xứ Đinh Văn Uyển nổi tiếng thời ấy, năm 23 tuổi Cụ đỗ thứ hai cử nhân khoa Quý Mão (1903). Đến khoa thi Hội năm Canh Tuất (1910), lúc 30 tuổi, Cụ đỗ tiến sĩ Hội Đình song nguyên (đỗ đầu thi Hội và thi Đình), chiếm vị trí cao nhất trong khoa thi Đình năm ấy ở kinh đô Huế.

Thời kì này, bọn thực dân xâm lược Pháp đã đặt ách đô hộ lên đất nước ta. Phong trào đấu tranh vũ trang chống Pháp kéo dài cho đến năm 1896 đã tạm thời lắng xuống. Sau đó, bước vào những năm đầu thế kỉ 20, do ảnh hưởng của Tân thư Trung Quốc, tầng lớp nho sĩ Việt Nam có thêm nhiều thông tin về những sự kiện quan trọng xảy ra ở ngay mấy nước láng giềng, như cuộc Duy tân của Nhật Bản, cuộc chính biến Mậu Tuất (1898) ở Trung Quốc, cuộc Chiến tranh Nga- Nhật đã hé mở cho họ một câu trả lời có ý nghĩa lịch sử về kế sách cứu nước trong tình hình mới. Phong trào Đông Du do Phan Bội Châu và Hội Duy Tân khởi xướng những năm 1905-1909 đã đưa nhiều du học sinh sang Nhật Bản du học. Song song với phong trào Đông Du có xu hướng chuẩn bị bạo động, khôi phục độc lập cho đất nước, thì đầu thế kỉ 20 còn sôi nổi một phong trào cải cách với sự ra đời của Trường Đông Kinh nghĩa thục tại Hà Nội do một số sĩ phu tiến bộ bấy giờ như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền tổ chức nhằm truyền bá tư tưởng yêu nước, mở mang dân trí, phát triển dân sinh, làm cho dân giàu nước mạnh để thực hiện mục đích cuối cùng là giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, dân chủ. Cũng trong thời kì này ở Trung Kì có phong trào Duy Tân (1906-1907) do các sĩ phu yêu nước Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng nhằm vận động cải cách văn hóa xã hội, gắn liền với động cơ kinh doanh công thương nghiệp, canh tân đất nước, động viên tinh thần yêu nước trong các tầng lớp nhân dân.

Tất cả những phong trào đó chắc chắn đã tác động mạnh mẽ đến chàng thanh niên nho sĩ Vương Hữu Phu khi vào kinh đô Huế dự khoa thi Hội, thi Đình vào mùa xuân năm Canh Tuất (1910).

Như mọi người biết, kì thi Đình là kì thi cuối cùng và cao nhất của khoa thi tiến sĩ. Những người đã đỗ kì thi Hội, thực chất là đã đỗ tiến sĩ, vào thi Đình là để tham gia kì thi do Hoàng đế chủ trì. Tại kỳ thi này, những người dự thi phải làm một bài văn sách, nên gọi là đình đối sách vấn, trả lời những câu hỏi của vua thường là những vấn đề về quốc kế dân sinh, về quốc gia đại sự.

Khoa thi này, vị vua trẻ tuổi, yêu nước là Duy Tân chủ trì, nhưng bên cạnh đó đã có sự hiện diện của người Pháp vì lúc này đất nước ta đã bị người Pháp đô hộ. Đề thi vua ra gồm 229 chữ nêu câu hỏi là: Làm sao cho dân giàu, làm sao để nâng cao dân trí. Nhận xét những cái làm được và những cái chưa làm được, cùng những người bề tôi giỏi và những người bề tôi kém trong lịch sử Trung Quốc và lịch sử Việt Nam đối với hai vấn đề đó. Thành tựu của các nước Phương Tây do đâu mà có? Có thể tiếp thu họ những cái gì? Nhiệm vụ quan trọng lúc này là gì và làm sao thực hiện được các nhiệm vụ đó?

Bài văn của vị tiến sĩ tân khoa chúng ta có 3.475 chữ. Sau khi đọc đi đọc lại nhiều lần bài văn sách này, bản thân tôi bước đầu cảm nhận được mấy điểm sau đây:

•1.     Tác giả bài văn sách là một người có vốn kiến thức sâu và rộng, không chỉ biết tường tận về Phương Đông qua các sách kinh sử đã học thuộc làu, còn biết đến Phương Tây cũng tường tận không kém, khi viết: “Nói về giáo dục, thì nước Đức có 21 trường đại học, nước Mỹ có 229 trường… Nói về chính trị, nước Anh chia thành 18 bộ, có quan đại thần thống quản mọi việc, mà các nước về chính sách dưỡng dân, an dân thì không nước nào là không mở rộng”. Lưu ý rằng thời kỳ này, đế quốc Pháp đã đô hộ nước ta, ngồi bên cạnh vua Duy Tân có thể là một viên khâm sứ người Pháp, thế mà tác giả chỉ nói đến nước Đức, nước Anh và nước Mỹ, chứ không nói một tí gì đến nước Pháp cả mặc dầu lúc này chúng đang tuyên truyền ầm ĩ về nền văn minh Đại Pháp. Điều này chắc là có ẩn ý sâu xa!

•2.     Nhận xét, đánh giá, sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử một cách khách quan, thẳng thắn và có thể nói là xác đáng, chẳng hạn: “Lý Thường Kiệt đánh Tống mà vây hãm hai châu Ung, Liêm, về võ công là bậc nhất ở nước ta, còn bọn Phạm Cự Lượng, Nguyễn Quyện thì chỉ là những người làm vây cánh cho việc lấn cướp ngôi mà thôi vậy. Bài văn sách cũng đã thẳng thắn vạch rõ nguyên nhân gây mất mùa đói kém là do chủ quan: “Nay chế sách lấy việc trong dân gian còn cảnh xin ăn, ở chốn đầm lớn rừng sâu còn nghe tiếng trộm cướp ra để hỏi, thần xin được giãi bày. Có người nói đấy là do thiên tai thường xuyên xảy ra, thần cho là không phải thế! Theo thần thì mối lợi nông nghiệp nước ta chẳng những chưa được mở rộng mà phân bón còn chưa được tân chế, nghề trồng trọt chưa có phương pháp tốt, cái đạo “giúp dân làm giàu” (phú chi) hoặc giả chưa làm đến cùng, chợt gặp năm hạn hán hay úng ngập gây mất mùa thì niềm vui và mối lợi chưa khắp đến xóm nghèo!”

•3.     Nội dung quan trọng của bài văn là hiến kế sách trị nước yên dân, theo yêu cầu của vua đặt ra “Nay muốn bọn gian quỹ không trỗi dậy, công thương được hưng khởi lên, ở vùng ven biển và ven núi, ruộng nương được khai khẩn hết, mọi nhà đều hay đều biết, việc giáo hóa có thể thi hành rộng rãi. Suy nghĩ cho sâu làm sao sửa trị được như thế?” Bài văn đã trình bày một cách thẳng thắn và rõ ràng ý kiến của mình về những vấn đề mà nhà vua đặt ra trên đây. Theo tác giả, lúc này có hai nhiệm vụ quan trọng, một là hưng dân lợi, và hai là khai dân trí.

Để hưng dân lợi, thì phải coi trọng nông nghiệp (trọng nông), nâng đỡ công nghệ (huệ công), phát triển thương nghiệp tạo điều kiện cho hàng hóa được lưu thông. Riêng về nông nghiệp, bài văn đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp thiết thực và mới mẻ, như: “Thần mong ở các địa phương mỗi nơi xây dựng một nông trường, chọn một khoảnh ruộng hoang, tuyển người siêng năng, giỏi giang quản lý công việc, cứ để cho họ đưa lưu dân về cày ruộng khẩn hoang, cung cấp nông cụ, giúp đỡ vốn liếng, đem sách kỹ thuật nông nghiệp dạy cho họ, tham khảo thêm cách cày tuyết của Phương Tây, khuyến khích việc dùng cày máy và các hoạt động khác…Ruộng nhà nước như thế, thì ruộng của dân sẽ bắt chước làm theo, ruộng đất may ra có thể ngày được khai khẩn thêm”

Để khai dân trí, bài văn đề xuất việc trả lương cho thầy, chọn thầy căn cứ vào trình độ chuyên môn thông qua sát hạch: “Bệ hạ muốn mở rộng dân trí, thần mong vua theo ý tưởng phấn đấu cho một nền giáo dục hoàn thiện mà thi hành. Đại thể là phải có sát hạch trong giảng dạy, phải biết cái hay cái dở trong việc chọn thầy, có điều lệ nghiêm cấm nghiêm túc để khuyến khích hay trừng phạt họ thì những người quản lý giáo dục cũng sẽ hết lòng với công việc của họ, đạo thầy đã được tôn trọng, thì học trò cũng theo đó mà hăng hái lên! Tuy được đào tạo trong khuôn khổ của Nho giáo, từ lâu chỉ biết có nền văn minh Trung Hoa, nhưng đứng trước sự xâm nhập của nền văn minh Phương Tây, tác giả không tỏ ra bảo thủ, trái lại đã tỏ ra rất sáng suốt, khi đặt vấn đề tiếp thu cái hay, cái tốt của nền văn minh này: “Bộ Học nên nắm việc khảo hạch cuối cùng để chọn bằng tốt nghiệp như kiểu học có chương trình của nước Anh gồm 16 môn thi, hay của nước Đức gồm 18 khóa trình vốn có. Thần muốn bắt chước làm theo, cầu lấy thực chất, không chuộng phù hoa, đòi hỏi về chuyên môn, chứ không chỉ biết qua loa, ngõ hầu văn minh có thể ngày một tiến lên”.

Bài văn có đoạn nhấn mạnh đến trách nhiệm của vua và các quan một cách rất thẳng thắn khi viết “Tuy đạo trị nước là ở chính trị và giáo hóa, nhưng điều chủ yếu lại là ở bệ hạ và các quan phụ chính, một lòng một dạ. Vì sao vậy? Bởi lẽ chỉ có phương pháp không thôi, thì không đủ để cai trị tốt thiên hạ; chỉ có lòng tốt không thôi thì nó cũng không thể tự thực hiện được vậy!”

Bài văn sách ra đời giữa chốn trường thi, cách đây một trăm năm, xem ra đến nay vẫn còn mang đầy đủ ý nghĩa thời sự. Thông qua bài văn, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề cổ kim Đông Tây, đề xuất nhiều ý kiến thiết thực, sắc sảo, có nhiều nhận xét thẳng thắn và biện luận chặt chẽ, được trình bày một cách mạch lạc, rõ ràng, có thể đánh giá là một áng văn tiêu biểu về cả nội dung lẫn nghệ thuật. Rất tiếc là những ý kiến sắc sảo mang tầm chiến lược của vị tiến sĩ tân khoa 30 tuổi nêu ra đã không được đem ra thi hành bởi lẽ lúc này mọi công việc đều do người Pháp quyết định, Sáu năm sau khoa thi này, năm 1916, vua Duy Tân đã bí mật rời khỏi ngai vàng để tham gia vào một phong trào chống Pháp và bị Pháp bắt đi đày biệt xứ tại một hòn đảo giữa ấn Độ Dương, phía cực nam châu Phi. Còn vị tiến sĩ tân khoa của chúng ta, sau đó đi nhận một chức quan tại miền sơn cước xa xôi tận cực nam Trung Bộ, rồi về Huế làm tại Tàng Cổ viện và Quốc sử viện trước sau khoảng 10 năm thì xin cáo quan về quê theo đuổi nghiệp y trị bệnh cứu người, nổi tiếng là một vị danh y ở vùng quê nghèo xứ Nghệ ngày ấy cho đến khi vĩnh biệt cõi đời vào ngày 18 tháng 4 năm Tân Tỵ (13-5-1941) hưởng thọ 62 tuổi.

Sau đây là toàn văn bài văn sách của Cụ gồm có phần phiên âm, phần dịch nghĩa, phần chú thích và cuối cùng là nguyên văn bằng chữ Hán (*).

 

                                                         Hà Nội ngày 16 tháng 3 năm 2010

                                                                        VƯƠNG LỘC

 


* Văn bản mang ký hiệu A 2249 lưu trữ tại thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm do nhà in Thụy Ký (18 Hàng Gai) và Cát Thành (30 Hàng Gai) cùng tổ chức việc khắc in. Ngoài bìa đề Duy Tân Canh Tuất khoa, Hội Đình Văn tuyển, gồm 18 trang, trang đầu ghi danh sách các vị Tiến sĩ và Phó bảng, tiếp theo là đề thi vua ra và bài làm của người dự thi (chỉ bài văn của người đỗ đầu mới được tuyển chọn). Giáo sư Trần Nghĩa, nguyên Viện trưởng Viện Hán Nôm đã giúp tôi kiểm tra về mặt văn bản và hiệu đính bản dịch. Tôi xin chân thành cám ơn.

————————————
  Và cảm đề cuối cuốn  TIỂU TRUYỆN VƯƠNG HỮU PHU (1880-1941) BẢN IN LẦN THỨ HAI, NĂM 2010 – NHÂN KỶ NIỆM 100 NĂM ÔNG VƯƠNG HỮU PHU THI ĐẬU ĐÌNH NGUYÊN TIẾN SĨ (1910 – 2010) VÀ NHÂN NGÀY GIỖ ÔNG – 18 THÁNG TƯ ÂM LỊCH của cháu nội Vương Thừa Bình!

 

CẢM ĐỀ CUỐI SÁCH

 

Bâng khuâng chuyện cũ, ngó song thưa

Thế sự xoay vần tựa nắng mưa!

Nghiên bút trăm năm dù cạn lắng

Ý tình chín chữ mãi còn lưa…

Hộ đình dựng lại sao cho xứng

Sơn thủy vui thêm mấy mới vừa?

Lặng khép trang văn, lòng những ước:

Đời nay đừng thẹn với đời xưa.

 

Sài Gòn 23-5-2010

VƯƠNG THỪA BÌNH

* Ảnh minh họa: ” Lều chõng” ngày xưa ( internet)

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Cháu ngoại

%d bloggers like this: